Trong một con hẻm cụt trên đường Nguyễn Thái Sơn, phường Hạnh Thông, TP. Hồ Chí Minh, tiệm tạp hoá của ông Trần Minh Thắng được trưng bày khá nhiều mặt hàng gắn liền với ký ức, tuổi thơ của thế hệ 8X.
![]() |
| Vẻ mặt buồn rầu của chủ tiệm tạp hóa hơn 30 năm trong không gian buôn bán vắng lặng ế ẩm. Ảnh: Hiểu Châu |
Khác với sự đa dạng của hàng hoá, không gian buôn bán rất vắng lặng, ế ẩm. Khi tôi bước vào, vẻ mặt buồn rầu của chủ tiệm trở nên niềm nở, nhanh nhẹn cởi mở hơn. Bởi với họ, giờ đây một ngày có dăm bảy lượt khách vào mua thứ gì đó cũng đã là đáng quý lắm.
Những hũ hàng được xếp kín trên các kệ sắt. Mỗi loại có một mảnh giấy nhỏ ghi tên và giá bán. Không gian không lớn nhưng hàng hóa khá đa dạng, từ bánh kẹo, đồ ăn vặt đến các loại thực phẩm đóng hũ cẩn thận.
Và, người chủ đã gắn bó với công việc bán buôn này hơn 30 năm. Suốt khoảng thời gian đó, việc bán hàng diễn ra khá đơn giản, gần như dựa vào thói quen và kinh nghiệm. Khách đến mua, người bán cân hàng, tính tiền. Hàng hết thì nhập thêm. Giá cả được ghi lại hoặc nhớ trong đầu. Khách đa phần là thân quen nên có khi chỉ cần bước vào cửa hàng, người bán đã biết họ cần mua món gì.
Thế nhưng hiện tại, cửa hàng khá ế ẩm. Một phần vì thay đổi địa điểm nhưng phần nhiều vì khách đã không còn thói quen mua hàng như trước nữa.
Trong khi đó, cửa hàng gần như chưa ứng dụng những phương thức bán hàng đang ngày càng phổ biến: không nhận đơn hàng qua ứng dụng, không sử dụng phần mềm quản lý và cũng chưa có phương thức thanh toán điện tử.
“Sao chú không làm cái mã QR để khách có thể chuyển khoản, vì giờ đa phần người mua đều ít dùng tiền mặt?”, tôi hỏi. Chủ tiệm chậm rãi nói: “Chú nay đã gần 70 tuổi, bao nhiêu năm qua, cái tiệm tạp hoá ấy vừa là kỷ niệm, cũng vừa là tài sản duy nhất mang lại nguồn kinh tế cho gia đình. Nhiều khách quen hoặc ở xa họ hỏi đặt mua qua mạng hay chuyển khoản…nhưng những thứ đó chú không rành”.
Câu chuyện của một tiệm tạp hóa nhỏ phần nào cho thấy khoảng cách ngày càng rõ giữa cách kinh doanh truyền thống và một thị trường bán lẻ đang thay đổi từng ngày.
Với một tiệm tạp hóa, thì hàng hóa chính là dòng vốn.
Tiền được bỏ ra để nhập hàng, sau đó nằm trên kệ và chỉ thực sự quay vòng khi có khách mua. Vì thế, cửa hàng càng vắng khách trong thời gian dài, một phần vốn càng có nguy cơ nằm lại trong hàng tồn.
Điều đáng nói là nhu cầu tiêu dùng không biến mất. Nhưng cách mua thì không giống như cũ nữa.
Một khách hàng có thể ghé cửa hàng tiện lợi trên đường đi làm. Một gia đình có thể đặt hàng qua ứng dụng. Người mua có thể so sánh giá trước khi quyết định. Một số người chỉ cần vài thao tác trên điện thoại để hàng được giao đến tận nhà.
Trong bối cảnh ấy, một cửa hàng nhỏ chỉ chờ khách bước vào như tiệm tạp hoá của ông Thắng có thể dần gặp khó khăn, ngay cả khi vẫn có hàng hóa và kinh nghiệm bán hàng.
Đây cũng chính là điểm khác biệt đáng chú ý của thị trường bán lẻ hiện nay: cạnh tranh không còn chỉ diễn ra giữa những cửa hàng ở gần nhau nữa. Một tiệm tạp hóa có thể phải cạnh tranh với cửa hàng tiện lợi, siêu thị, sàn thương mại điện tử và các nền tảng giao hàng.
Mặc dù, cửa hàng truyền thống vẫn có lợi thế về khoảng cách và sự quen thuộc. Nhưng nếu khách hàng ngày càng coi trọng sự tiện lợi, lợi thế ấy chắc chắn không còn đủ cho việc giữ chân khách.
Với những người đã kinh doanh vài chục năm, thay đổi cách làm không đơn giản chỉ là học thêm một thao tác trên điện thoại.
Họ đã quen với việc nhìn kệ hàng để biết cần nhập gì, quen ghi giá bằng giấy, quen bán trực tiếp và tính tiền tại quầy. Những phương thức ấy từng giúp họ duy trì cửa hàng suốt nhiều năm trước.
Vì vậy, khi thị trường thay đổi, tâm lý thận trọng cũng là điều dễ hiểu.
Một khoản tiền bỏ ra để mua phần mềm, thiết bị hay quảng cáo trực tuyến đều là chi phí. Với một cửa hàng đang ế khách, câu hỏi đầu tư bao nhiêu và có thu lại được không cũng trở thành đề toán khó.
Có người chủ động thay đổi, có người được con cháu hỗ trợ, có người chỉ áp dụng một vài công cụ đơn giản. Và cũng có những người tiếp tục cách bán hàng cũ vì chưa nhìn thấy một phương án phù hợp với quy mô cửa hàng.
Câu chuyện của người chủ tiệm tạp hóa trên không phải câu chuyện về một cửa hàng không có kinh nghiệm.
Nhưng kinh nghiệm chỉ có thể giúp một cửa hàng hiểu khách hàng cũ, trong khi thị trường lại đang xuất hiện những khách hàng với thói quen mua hàng kiểu mới.
Một chủ cửa hàng có thể vẫn bán những mặt hàng quen thuộc, vẫn giữ mối quan hệ với khách hàng trong khu phố của mình, vẫn trực tiếp đứng sau quầy. Nhưng cách tiếp cận khách hàng, cách quản lý hàng hóa và phương thức thanh toán cần được thay đổi.
Nếu không, chắc chắn một thực tế xảy ra là khách hàng giảm dần, hàng hóa quay vòng chậm đi và lợi nhuận bị thu hẹp từng bước.
Đó là một quá trình diễn ra âm thầm hơn lâu hơn nhiều so với việc một cửa hàng đóng cửa.
Tiệm tạp hóa nhỏ như được kể ở trên không thể đại diện cho toàn bộ khu vực hộ kinh doanh. Nhưng câu chuyện này cho thấy một vấn đề đáng chú ý: sự thay đổi của thị trường đang diễn ra nhanh hơn khả năng thích ứng của một bộ phận cửa hàng truyền thống.
Đó có lẽ là hình ảnh cô đọng nhất về một bộ phận hộ kinh doanh lâu năm hiện nay. Đó cũng là cảnh tượng đang diễn ra phổ biến ở các khu chợ Tân Định, chợ Phạm Văn Hai, chợ Bà Chiểu…một thời tấp nập khách qua lại nhưng nay thay vào đó là cảnh quan trầm lắng, vắng người ghé, nhiều chủ sạp đã phải đóng cửa vì không đủ khả năng chi trả các khoản thuế, phí…
Tuy nhiên, không nhất thiết các hộ, cá nhân kinh doanh cũ phải trở thành những cửa hàng hiện đại theo cùng một khuôn mẫu. Để tiếp tục sống được bằng nghề cũ, phải chăng cần tiếp cận thêm những cách làm mới.
Nhưng, có lẽ với những người đã đứng sau quầy hàng vài ba thập kỷ thì điều khó khăn nhất không phải học cách bán một món hàng mới, mà là cách bán một món hàng quen thuộc trong một môi trường đã thay đổi cách mua.