Trong sản xuất nông nghiệp, một giống cây có giá trị hay một quy trình kỹ thuật mới chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi phù hợp với điều kiện canh tác, giúp người dân nâng năng suất, chất lượng và có đầu ra ổn định. Tại Tuyên Quang, việc gắn các nhiệm vụ khoa học và công nghệ với nhu cầu thực tế của từng địa phương đang mở thêm hướng phát triển sản xuất hàng hóa.
Năm 2026, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tuyên Quang phối hợp với 15 xã, phường rà soát, đề xuất đặt hàng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tập trung vào những lĩnh vực có lợi thế như nông nghiệp, dược liệu, sản phẩm đặc trưng và chế biến.
Một trong những hướng triển khai là bảo tồn, phát triển nguồn gen cây Tam thất hoang. Dự án đã điều tra, đánh giá, thu thập và tuyển chọn nguồn gen; xây dựng khu khảo nghiệm, nhân giống khoảng 5.000 m², đồng thời triển khai mô hình trồng với quy mô khoảng 2 ha và hoàn thiện quy trình kỹ thuật. Tại xã Tùng Vài, mô hình tiếp tục được đánh giá khả năng thích nghi, tạo cơ sở xem xét phát triển vùng dược liệu có giá trị kinh tế cao.
Ở xã Thượng Lâm, các loại dược liệu như Sâm Ngọc Linh, Sâm Lai Châu và Tam thất cũng được đưa vào thử nghiệm từ khâu nhân giống, trồng, chăm sóc đến thu hoạch, bảo quản. Việc thử nghiệm nhiều công đoạn giúp tích lũy cơ sở kỹ thuật trước khi tính đến khả năng tổ chức sản xuất ở quy mô lớn hơn.
Với cây ăn quả, các giống lê VH6, lê Đài Loan và mận Tam Hoa được tuyển chọn, sản xuất khoảng 5.040 cây giống, xây dựng mô hình trồng mới khoảng 12 ha tại Phố Bảng, Đồng Văn và Yên Minh. Nguồn giống và kỹ thuật canh tác mới có thể tạo thêm lựa chọn chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại những địa bàn có điều kiện phù hợp.
Các mô hình ứng dụng biện pháp sinh học trong nhà màng tại xã Thái Hòa, Tân Thanh và phường Minh Xuân với cà chua cherry, dưa chuột baby, dưa thơm cũng cho thấy hướng tiếp cận gắn khoa học với yêu cầu nâng chất lượng nông sản. Việc sử dụng chế phẩm sinh học, kết hợp kỹ thuật phòng trừ sinh vật gây hại, hướng tới quy trình sản xuất an toàn hơn.
Tuy nhiên, từ mô hình đến sản xuất hàng hóa vẫn là một chặng đường cần được tính toán kỹ. Hiệu quả kinh tế, chi phí đầu tư, khả năng tiêu thụ và mức độ phù hợp với điều kiện của người dân sẽ quyết định việc một mô hình có thể nhân rộng đến đâu.
![]() |
| Dự án ứng dụng khoa học kỹ thuật nuôi nhím bờm theo hướng sản xuất hàng hóa tại xã Vị Xuyên do Hợp tác xã Tấn Đạt chủ trì, triển khai. (Ảnh: Văn Nghị) |
Ở lĩnh vực chăn nuôi, mô hình nuôi nhím sinh sản và nhím thương phẩm tại xã Vị Xuyên do Hợp tác xã Tấn Đạt chủ trì là một ví dụ về việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào tổ chức sản xuất.
Mô hình được triển khai với 200 con nhím sinh sản, gồm 160 con cái và 40 con đực. Số nhím con sinh ra đạt khoảng 912 con, trong đó khoảng 820 con cai sữa. Mô hình nuôi nhím thương phẩm đạt khoảng 565 con, trọng lượng xuất chuồng từ 10–13 kg/con.
Những số liệu này cho thấy quy mô đàn và khả năng tạo sản phẩm của mô hình. Để đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế, các yếu tố như chi phí thức ăn, chuồng trại, thú y, tỷ lệ hao hụt, thời gian nuôi và giá bán thực tế cũng cần được xem xét. Đây là cơ sở để người chăn nuôi có thể cân đối nguồn lực và quyết định khả năng đầu tư.
Không chỉ dừng ở chăn nuôi, công nghệ số đang được đưa vào hoạt động nuôi thủy sản. Tại các xã Na Hang và Chiêm Hóa, hệ thống IoT được ứng dụng tại 3 điểm nuôi nhằm theo dõi, giám sát các chỉ tiêu chất lượng nước. Thông tin thu thập từ hệ thống giúp người nuôi chủ động hơn trong việc phát hiện những biến động của môi trường, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời.
Giá trị của ứng dụng này không chỉ nằm ở việc sử dụng thiết bị hiện đại mà còn ở khả năng hỗ trợ người sản xuất ra quyết định dựa trên dữ liệu. Nếu được vận hành phù hợp với điều kiện thực tế, công nghệ có thể góp phần giảm rủi ro trong quá trình nuôi, nâng hiệu quả quản lý và tạo tiền đề cho việc mở rộng mô hình.
Một hướng triển khai khác là ứng dụng khoa học và công nghệ để phát triển các sản phẩm gắn với điều kiện tự nhiên, tri thức bản địa và bản sắc văn hóa của địa phương.
Với cây tre trinh, các mô hình trồng mới khoảng 3 ha và thâm canh khoảng 4 ha được triển khai tại Hồng Thái, Yên Hoa, đi cùng hướng dẫn kỹ thuật nhân giống, chăm sóc, thu hoạch và chế biến. Định hướng đặt ra là từng bước hình thành sản phẩm măng hàng hóa, hướng tới phát triển sản phẩm OCOP.
Đối với những sản phẩm đặc trưng, việc tổ chức vùng nguyên liệu và hoàn thiện quy trình sản xuất có ý nghĩa quan trọng. Nếu chỉ dừng ở khâu trồng, thu hoạch mà chưa có phương án sơ chế, bảo quản, đóng gói và tiêu thụ, giá trị kinh tế của sản phẩm sẽ khó được phát huy đầy đủ.
Tri thức bản địa cũng được tiếp cận theo hướng nghiên cứu và chuẩn hóa. Bài thuốc tắm, ngâm chân truyền thống của người Dao đỏ được nghiên cứu về nguồn nguyên liệu, quy trình chiết xuất và phát triển sản phẩm thử nghiệm với khoảng 500 viên tắm, 1.000 viên ngâm chân, phục vụ thử nghiệm tại một số cơ sở homestay ở Na Hang, Lâm Bình.
Hướng nghiên cứu này mở ra khả năng kết nối nguồn nguyên liệu bản địa với dịch vụ du lịch và chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, để đưa sản phẩm ra thị trường rộng hơn, việc chuẩn hóa thành phần, kiểm soát chất lượng, đánh giá độ an toàn và xác định các yêu cầu pháp lý phù hợp với công dụng công bố là những khâu cần được chú trọng.
Tại phường Mỹ Lâm, quy trình sản xuất bánh men lá được nghiên cứu, hoàn thiện. Khoảng 200 kg bánh men được sản xuất thử và ứng dụng để sản xuất khoảng 5.000 lít rượu nếp men lá. Việc hoàn thiện quy trình có thể giúp nâng tính ổn định của sản phẩm, đồng thời tạo cơ sở cải thiện chất lượng và khả năng thương mại hóa. Với sản phẩm đồ uống truyền thống, kiểm soát chất lượng và bảo đảm an toàn thực phẩm vẫn là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình sản xuất.
Ông Phan Đăng Đông, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tuyên Quang cho biết, các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ngày càng sát với thực tế chăn nuôi, sản xuất, giải quyết những vấn đề cụ thể tại cơ sở. Kết quả nghiên cứu có khả năng chuyển giao, ứng dụng và nhân rộng, qua đó tạo giá trị trong sản xuất và đời sống.
Năm 2026, Sở Khoa học và Công nghệ đã tham mưu trình UBND tỉnh Tuyên Quang danh mục 32 nhiệm vụ ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực hiện đợt 1. Trong đó, 16 nhiệm vụ do các sở, ngành, cơ quan đề xuất và 16 nhiệm vụ do các địa phương đề xuất. Quá trình tuyển chọn thu hút hơn 30 viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức khoa học cùng các cơ quan, đơn vị tham gia đề xuất, thực hiện.
Việc thu hút các tổ chức nghiên cứu và đơn vị chuyên môn tham gia tạo điều kiện bổ sung nguồn lực khoa học cho địa phương. Dù vậy, hiệu quả cuối cùng không chỉ được đo bằng số nhiệm vụ được phê duyệt, số mô hình được triển khai hay số sản phẩm được tạo ra, mà còn ở khả năng duy trì sản xuất sau khi kết thúc hỗ trợ, mức độ tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã và khả năng tiêu thụ trên thị trường.
Đối với Tuyên Quang, bài toán đặt ra là tiếp tục kết nối các khâu nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật, tổ chức sản xuất, chế biến và phân phối. Khi doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân cùng tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu, lựa chọn công nghệ đến xây dựng sản phẩm, kết quả nghiên cứu sẽ có thêm cơ hội đi vào thực tiễn.
Khoa học và công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi những tiến bộ kỹ thuật giúp người sản xuất làm ra sản phẩm tốt hơn, giảm rủi ro, nâng thu nhập và đáp ứng nhu cầu thị trường. Đây cũng là cơ sở để Tuyên Quang khai thác hiệu quả lợi thế từng vùng, phát triển sản phẩm đặc trưng và từng bước hình thành các chuỗi sản xuất hàng hóa có giá trị cao.
