Kinh tế Halal toàn cầu đang chứng kiến bước chuyển mình mạnh mẽ khi không còn bó hẹp trong phạm vi tôn giáo mà đã phát triển thành một hệ sinh thái kinh tế toàn diện. Các khảo sát quốc tế chỉ ra rằng, quy mô thị trường này ước đạt từ 2.700 - 3.300 tỷ USD và duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định từ 9 - 12%/năm.
![]() |
| Ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, theo khảo sát quốc tế, quy mô thị trường Halal toàn cầu năm 2025 ước đạt từ 2.700-3.300 tỷ USD và tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trung bình từ 9–12%/năm. Dự báo đến năm 2034, quy mô của nền kinh tế Halal có thể đạt từ 6.000-9.500 tỷ USD. |
Động lực tăng trưởng cốt lõi đến từ quy mô hơn 2 tỷ người tiêu dùng Hồi giáo (chiếm 25% dân số thế giới), kết hợp xu hướng tiêu dùng hiện đại đề cao tính an toàn, truy xuất nguồn gốc và sản xuất bền vững. Đây chính là dư địa chiến lược để các ngành nông sản, thực phẩm, thủy sản và dịch vụ của Việt Nam thâm nhập sâu vào các thị trường lớn.
Điểm nghẽn từ tư duy "con tem" kỹ thuật
Dù sở hữu tiềm năng xuất khẩu sang các thị trường thuộc Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) lên đến 34 tỷ USD, nhưng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm Halal thực tế của Việt Nam hiện mới chỉ đạt khoảng 700 triệu USD, tương đương vỏn vẹn 2% tiềm năng.
Theo Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) Vũ Bá Phú, nguyên nhân lớn nhất khiến dòng chảy thương mại này chưa thông suốt là do phần lớn doanh nghiệp Việt vẫn tiếp cận Halal theo hướng ngắn hạn. Nhiều đơn vị chỉ coi đây là một loại “chứng nhận kỹ thuật” hoặc “con tem” thông quan tạm thời để đưa hàng hóa vào thị trường Hồi giáo mà chưa nhìn nhận Halal là một hệ thống quản lý chất lượng toàn diện xuyên suốt chuỗi cung ứng.
Bản chất của tiêu chuẩn Halal đòi hỏi sự minh bạch tuyệt đối, kiểm soát chặt chẽ từ nguồn nguyên liệu đầu vào, quy trình chế biến cho đến khâu logistics. Việc thiếu hụt một chiến lược đầu tư bài bản và tư duy quản trị đồng bộ khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đánh mất cơ hội tham gia sâu vào hệ sinh thái toàn cầu.
Kiến tạo hành lang pháp lý và hạ tầng tiêu chuẩn quốc gia
Để tháo gỡ điểm nghẽn và tạo bệ phóng cho doanh nghiệp, Việt Nam đang tập trung xây dựng hệ thống quản lý nhà nước dựa trên ba trụ cột: Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, nâng cao năng lực chứng nhận và tăng cường hiệu quả quản lý vĩ mô.
![]() |
| Ông Ngô Xuân Nam, Văn phòng Thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật (SPS Việt Nam) cho biết, các nước Hồi giáo hiện áp dụng hệ thống quản lý Halal kết hợp chặt chẽ với quy định SPS của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). |
Về hành lang pháp lý, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 127/2026/NĐ-CP quy định về quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal. Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhất, tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý chứng nhận tại Việt Nam.
Về hạ tầng kỹ thuật và tiêu chuẩn, hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN): Việt Nam đã ban hành 6 tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến Halal (gồm 4 tiêu chuẩn cho chuỗi thực phẩm, 1 tiêu chuẩn cho dịch vụ du lịch và 1 tiêu chuẩn cho tổ chức chứng nhận). Hiện nay, Viện Tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam đang phối hợp xây dựng các bộ tiêu chuẩn mới nhằm hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) và Viện Tiêu chuẩn và Đo lường các quốc gia Hồi giáo (SMIIC).
Cùng với đó, dưới góc độ mạng lưới chứng nhận nội địa, Ủy ban Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng quốc gia đã chính thức cấp giấy đăng ký hoạt động cho 3 tổ chức chứng nhận uy tín gồm: Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia (HALCERT - thuộc QUACERT), Công ty TNHH Văn phòng Chứng nhận Halal và Công ty TNHH Chứng nhận Halal Toàn cầu (GHC). Bước đi này giúp giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp trong nước và tạo thế chủ động cho Việt Nam trong hoạt động công nhận lẫn nhau với các tổ chức quốc tế. Tính đến nay, hệ thống này đã cấp chứng nhận thành công cho hơn 1.000 doanh nghiệp Việt Nam.
Mô hình thực tế và lộ trình xây dựng thương hiệu "Halal Vietnam"
Thực tế chứng minh, những doanh nghiệp thay đổi tư duy, đầu tư theo chiều sâu từ sớm đã gặt hái được những kết quả vượt bậc. Vinamilk hay Công ty F&G Việt Nam là những ví dụ điển hình khi sở hữu tệp khách hàng có mức độ trung thành cao và chiếm tỷ trọng lớn tại khu vực Trung Đông.
![]() |
| Sản phẩm trứng muối của Công ty Minh Đức (TP Cần Thơ) đã được chứng nhận Halal (Ảnh: Thu Hiền/TTXVN). |
Ở khối kinh tế tập thể, Hợp tác xã Hà Nội Xanh (HalalViet) đã tạo đột phá khi kết hợp tri thức bản địa với công nghệ chế biến sâu cây bưởi Diễn tạo ra chuỗi sản phẩm hữu cơ đáp ứng tiêu chuẩn Halal, phản ánh đúng xu hướng tiêu dùng xanh và có đạo đức.
Sự kiện Bộ Công Thương phối hợp ra mắt Trung tâm Xúc tiến & Trải nghiệm HalalViet mới đây được xem là giải pháp thực tiễn nhằm hình thành một hệ sinh thái đồng bộ để hỗ trợ doanh nghiệp.
Để đưa Halal trở thành một trụ cột mới trong chiến lược xuất khẩu, các chuyên gia kinh tế khuyến nghị Việt Nam cần đẩy mạnh tích hợp tiêu chuẩn Halal với các quy định về Vệ sinh dịch tễ và Kiểm dịch động thực vật (SPS) của WTO trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CEPA (với UAE) hay FTA với Israel.
Mục tiêu dài hạn là xây dựng thành công thương hiệu quốc gia “Halal Vietnam”. Lộ trình này cần bắt đầu từ các ngành cốt lõi là nông sản, thực phẩm, du lịch, sau đó mở rộng biên độ sang các ngành phụ trợ có hàm lượng giá trị cao như logistics, mỹ phẩm, dược liệu và dịch vụ số, đưa Việt Nam trở thành một mắt xích tin cậy không thể thay thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.