![]() |
| Giá thép hôm nay 28/9/2026: Sàn quốc tế đỏ sàn, cảnh báo dư thừa 721 triệu tấn |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h00 ngày 28/9/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 13.840 - 15.150 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 14.650 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.950 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.210 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.040 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 14.550 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.940 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 14.550 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 13.840 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.250 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.210 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 15.050 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.140 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.720 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.950 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.840 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.840 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 8h00 (giờ Việt Nam) ngày 28/9, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.107 CNY/tấn. |
Thị trường vật liệu cùng các sản phẩm thép toàn cầu mở màn tuần giao dịch mới trong sắc đỏ bao trùm.
Tại sàn Thượng Hải, hợp đồng thép thanh giao tháng 10/2026 sụt 8 Nhân dân tệ/tấn, tương ứng giảm 0,26%, lùi xuống mốc 3.042 Nhân dân tệ/tấn. Cùng xu hướng hạ nhiệt, quặng sắt giao tháng 10/2026 trên sàn Đại Liên mất 3,5 Nhân dân tệ/tấn, tương đương mức giảm 0,49%, còn 713,5 Nhân dân tệ/tấn. Trên sàn Singapore, quặng sắt kỳ hạn tương ứng lùi 0,15 USD/tấn, khoảng 0,16%, niêm yết ở ngưỡng 94,95 USD/tấn.
Số liệu thống kê từ Worldsteel cho thấy tổng lượng gang toàn cầu trong 8 tháng đầu năm 2026 đạt 913 triệu tấn, sụt 2,2% so với giai đoạn cùng kỳ. Trung Quốc tiếp tục giữ vị trí số một với 563 triệu tấn, giảm 3,1%. Xếp các vị trí tiếp theo lần lượt là Ấn Độ đạt 106 triệu tấn, tăng 4%; Nhật Bản giữ nguyên mức 39 triệu tấn; Nga chạm mốc 38 triệu tấn, giảm 5%; Hàn Quốc ghi nhận 29 triệu tấn, nhích nhẹ 1,5%.
Theo báo cáo do AISI công bố, khối lượng thép nhập khẩu vào Mỹ suốt tháng 8 tăng nhẹ 3,4% so với tháng 7, đạt 2,34 triệu tấn ngắn, dù vậy vẫn thấp hơn 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm thép cán chiếm 17,5% thị phần với 1,6 triệu tấn ngắn. Hàn Quốc đứng đầu danh sách cấp hàng cho Mỹ khi đạt 407.000 tấn ngắn. Riêng lượng thép xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường này đạt 159.000 tấn ngắn, tăng 4% so với tháng trước đó.
Khác biệt hoàn toàn với đà giảm thế giới, các doanh nghiệp sản xuất trong nước duy trì chính sách bình ổn giá. Thương hiệu Hòa Phát niêm yết mức 14.920 đồng/kg cho dòng CB240 và 14.210 đồng/kg cho chủng loại D10 CB300. Báo giá từ các đơn vị khác như Việt Ý, Pomina, VJS, Kyoei hay VAS nằm trong khoảng từ 13.940 đồng/kg đến 15.050 đồng/kg tùy theo từng phân khúc.
Báo cáo cập nhật từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra những dự báo đáng lo ngại về viễn cảnh ngành thép giai đoạn 2024 đến 2027.
Tình trạng dư thừa công suất toàn cầu dự báo sẽ tăng vọt từ mốc 601 triệu tấn của năm 2024 lên kỷ lục 721 triệu tấn vào năm 2027. Việc trợ cấp quy mô lớn tại các nền kinh tế phi thị trường cùng làn sóng đầu tư dịch chuyển các dây chuyền phát thải cao đang gây méo mớ nghiêm trọng cho thị trường.
Lộ trình phát triển "thép xanh" vấp phải rào cản lớn. Tính tới quý II/2025, hơn 15,5 triệu tấn công suất đến từ các dự án ít phát thải đã bị tạm dừng hoặc hoãn tiến độ. Giá thép truyền thống lao dốc khiến sản phẩm xanh mất lợi thế cạnh tranh, trong khi chi phí năng lượng đắt đỏ cùng chính sách thiếu ổn định làm tâm lý người mua e ngại.
Quá trình chuyển đổi công nghệ diễn ra chưa thực sự triệt để. Tính đến năm 2027, công nghệ lò cao kết hợp lò thổi oxy (BF BOF) vẫn chiếm quy mô lớn với 62,1 triệu tấn, còn công nghệ lò điện hồ quang dùng thép phế đạt 61,7 triệu tấn. Trong khi đó, mô hình hoàn nguyên trực tiếp kết hợp lò điện (DRI EAF) chỉ tiệm cận 30,7 triệu tấn. OECD nhận định sự mở rộng của công nghệ DRI chủ yếu bắt nguồn từ bài toán tối ưu chi phí hơn là mục tiêu chuyển đổi xanh thuần túy.