Ngày 13/10, ông Giàng Quốc Hưng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai, đã kiểm tra tiến độ thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp tại hai xã Hưng Khánh và Quy Mông. Qua thực tế triển khai, hai mô hình cho thấy những chuyển biến bước đầu trong cách tổ chức sản xuất, từ thay đổi quy trình canh tác đến nghiên cứu đa dạng hóa sản phẩm.
![]() |
| Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Giàng Quốc Hưng làm việc tại xã Hưng Khánh (Ảnh: Thu Trang) |
Tại xã Hưng Khánh, Dự án “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình sản xuất chè hữu cơ, góp phần nâng cao giá trị, thương hiệu chè Yên Bái” do Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc chủ trì được triển khai trong 36 tháng, từ tháng 6/2024 đến tháng 5/2027. Dự án có quy mô 15 ha, với 47 hộ tham gia tại hai xã Hưng Khánh và Gia Hội. Riêng mô hình chè theo tiêu chuẩn hữu cơ tại thôn Khe Năm, xã Hưng Khánh, có diện tích 9 ha với 19 hộ dân.
Điểm đáng chú ý là 100% hộ tham gia dự án đã áp dụng quy trình thâm canh chè theo hướng hữu cơ, giảm sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học. Nhờ đó, chất lượng nguyên liệu từng bước được cải thiện, giá thu mua chè búp tươi cao hơn 15–20% so với phương thức canh tác thông thường.
Mức chênh lệch này cho thấy thay đổi phương thức sản xuất có thể tạo ra lợi ích kinh tế trực tiếp cho người trồng chè. Khi chất lượng nguyên liệu được nâng lên và đáp ứng yêu cầu của đơn vị chế biến, người dân có thêm động lực duy trì quy trình canh tác mới.
Tuy nhiên, để lợi thế ấy trở thành giá trị ổn định, vùng chè cần duy trì chất lượng đồng đều, kiểm soát quy trình sản xuất và hoàn thiện các điều kiện chứng nhận. Đây cũng là khâu đang được địa phương và đơn vị chủ trì tập trung thực hiện.
Song song với phát triển vùng nguyên liệu, dự án đã chuyển giao công nghệ chế biến bốn dòng sản phẩm gồm chè xanh đặc sản, chè xanh thơm, hồng trà và bạch trà. Các hợp tác xã ký hợp đồng thu mua nguyên liệu với người dân, từng bước hình thành liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ.
Từ tháng 3/2025, mô hình được chứng nhận chuyển đổi hữu cơ và đang tiếp tục hoàn thiện các điều kiện để đánh giá, tiến tới cấp chứng nhận hữu cơ chính thức. Đây là bước quan trọng để nâng cao khả năng nhận diện sản phẩm, củng cố niềm tin của thị trường và tạo cơ sở phát triển thương hiệu chè địa phương.
![]() |
| Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Giàng Quốc Hưng kiểm tra quy trình sản xuất, chế biến các sản phẩm từ chè tại Hợp tác xã chè Khe Năm, xã Hưng Khánh. (Ảnh: Lộc Chầm) |
Nếu mô hình chè Hưng Khánh tập trung nâng chất lượng vùng nguyên liệu đã có, đề tài phát triển các giống sen mới tại Quy Mông lại mở ra hướng khai thác đa dạng giá trị của một loại cây trồng.
Đề tài “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trồng một số giống hoa sen mới phục vụ sản xuất và chế biến các sản phẩm từ sen theo chuỗi giá trị tại tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh chủ trì, được thực hiện từ tháng 1/2026 đến tháng 3/2028.
Mục tiêu của đề tài là lựa chọn giống sen phù hợp với điều kiện địa phương, hoàn thiện quy trình thâm canh, chế biến và phát triển sản phẩm theo chuỗi giá trị. Tổng diện tích khảo nghiệm giống và thí nghiệm kỹ thuật đạt 5,32 ha tại các địa bàn Việt Hồng, Trấn Yên và Quy Mông.
Năm giống sen được đưa vào nghiên cứu gồm Bách Diệp Hồng, Mặt Bằng, Ánh Hồng, Vân Đài 01 và Hồng Đồng Tháp, phục vụ các hướng khai thác hoa, hạt, ngó, củ và lá.
Kết quả bước đầu cho thấy các giống sen có khả năng thích nghi khá tốt với điều kiện địa phương, tỷ lệ sống đạt 88–92%. Một số giống ghi nhận năng suất triển vọng: sen lấy ngó Ánh Hồng đạt 7,64 tấn/ha/năm; sen lấy củ Vân Đài 01 đạt 8,2 tấn/ha/năm; sen lấy hạt Mặt Bằng đạt năng suất gương 4,84 tấn/ha/năm.
Các số liệu này tạo cơ sở để tiếp tục đánh giá khả năng phát triển của từng giống. Quan trọng hơn, việc nghiên cứu nhiều hướng khai thác giúp cây sen không chỉ được nhìn nhận ở giá trị hoa cảnh mà còn có thể trở thành nguồn nguyên liệu cho các sản phẩm chế biến.
Một số sản phẩm từ sen bước đầu cho thấy triển vọng tiêu thụ và nhận được phản hồi tích cực từ thị trường. Dù vậy, kết quả khảo nghiệm và tín hiệu thị trường ban đầu chưa đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế đã được xác lập trên quy mô lớn. Việc lựa chọn giống chủ lực, xác định quy mô vùng trồng, hoàn thiện công nghệ chế biến và tìm kiếm đầu ra ổn định vẫn là những công việc cần tiếp tục thực hiện.
Đối với Quy Mông, hướng phát triển lâu dài vì thế không chỉ là mở rộng diện tích trồng sen, mà cần gắn vùng nguyên liệu với sản phẩm cụ thể, nhu cầu tiêu dùng và năng lực tổ chức sản xuất của người dân, hợp tác xã.
![]() |
| Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Giàng Quốc Hưng làm việc tại xã Quy Mông về tiến độ triển khai Đề tài “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trồng một số giống hoa sen mới phục vụ sản xuất và chế biến các sản phẩm từ sen theo chuỗi giá trị tại tỉnh Lào Cai”, do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh chủ trì thực hiện. (Ảnh: Thu Trang) |
Qua kiểm tra thực tế và nghe báo cáo, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Giàng Quốc Hưng ghi nhận sự chủ động của các đơn vị, địa phương trong triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự liên kết giữa nhà khoa học, chính quyền và người dân.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai nhấn mạnh yêu cầu phát triển nông nghiệp sạch, nâng cao hàm lượng khoa học và công nghệ trong sản xuất để cải thiện năng suất, chất lượng và giá trị nông sản. Các đơn vị chủ trì cần tiếp tục hoàn thiện quy trình kỹ thuật phù hợp với từng giống cây trồng, bảo đảm tiêu chuẩn sản xuất sạch, hữu cơ; chú trọng chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Đối với chè Hưng Khánh, nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện các điều kiện cần thiết để đánh giá, cấp chứng nhận hữu cơ chính thức. Với cây sen, xã Quy Mông được đề nghị xây dựng chiến lược phát triển dài hạn, từng bước hình thành thương hiệu sen Quy Mông.
Từ hai mô hình có thể thấy, giá trị của nhiệm vụ khoa học và công nghệ không chỉ nằm ở việc chuyển giao một quy trình hay đưa giống cây mới vào khảo nghiệm. Hiệu quả cuối cùng cần được thể hiện qua chất lượng sản phẩm, khả năng tiêu thụ, thu nhập của người dân và sức cạnh tranh của nông sản địa phương.
Với chè hữu cơ, đó là khả năng duy trì chất lượng, phát triển sản phẩm chế biến và tạo dựng niềm tin cho người mua. Với cây sen, đó là việc lựa chọn được giống phù hợp, hình thành sản phẩm có thị trường và tổ chức sản xuất theo chuỗi.
Việc nhân rộng các mô hình cần có kế hoạch cụ thể, phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện thực tế. Khi khoa học công nghệ gắn chặt với tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ, những kết quả nghiên cứu mới có thể chuyển hóa thành sinh kế bền vững, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và gia tăng giá trị nông nghiệp Lào Cai.
