Thứ hai 05/10/2026 16:29
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Làm chắc để đi nhanh, không lấy thận trọng làm lý do trì hoãn

Khai mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, đổi mới phương thức tổ chức thực hiện và phát huy hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững. Mọi quyết sách phải được thể chế hóa đồng bộ, triển khai kịp thời và kiểm chứng bằng kết quả thực tế, trong đó lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền lợi chính đáng của Nhân dân là ưu tiên hàng đầu.

Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập xin được trích nguyên văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV:

“Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

Thưa các đồng chí đại biểu dự Hội nghị,

Hôm nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV khai mạc Hội nghị lần thứ tư để xem xét những vấn đề quan trọng về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển đất nước. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí dự Hội nghị.

Hội nghị diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, chuẩn bị kế hoạch năm 2027 và những năm tiếp theo.

Biến động quốc tế, cạnh tranh công nghệ, chiến tranh thương mại và yêu cầu đổi mới mô hình phát triển đất nước, mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% đòi hỏi chúng ta phải nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng và quyết tâm hành động.

Muốn nắm bắt thời cơ, phải có tư duy chiến lược, tính chủ động để phân tích tình hình, đưa ra quyết sách đúng, tổ chức thực hiện hiệu quả. Điều đặc biệt quan trọng là sự đồng lòng, ủng hộ của Nhân dân.

Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác định đường lối, mục tiêu và những định hướng chiến lược lớn. Hội nghị Trung ương 2 đã quyết định các vấn đề quan trọng về tổ chức, cán bộ và quy định nền tảng của Đảng cho nhiệm kỳ mới.

Hội nghị Trung ương 3 tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội bằng những chủ trương lớn về xây dựng Đảng, mô hình phát triển và các chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hội nghị lần này vừa phải giải quyết những điều kiện để thực hiện hiệu quả các quyết sách đó, vừa phải chuẩn bị cơ sở lý luận, tổ chức và con người cho sự phát triển lâu dài của đất nước.

Yêu cầu bao trùm là nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, quy tụ và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để hiện thực hóa mục tiêu phát triển.

Những vấn đề về tổ chức, xây dựng Đảng, phương thức lãnh đạo, cầm quyền; cán bộ, nguồn lực và phát triển kinh tế - xã hội cần được xem xét trong mối liên hệ hữu cơ với nhau: Đảng định hướng đúng. Hệ thống chính trị, guồng máy hành chính vận hành hiệu quả. Tiềm năng, sức lực con người được phát huy. Nhân dân được thụ hưởng thành quả. Gắn nhiệm vụ trước mắt với mục tiêu năm 2030, năm 2045 và tầm nhìn lâu dài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Làm chắc để đi nhanh, không lấy thận trọng làm lý do trì hoãn
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Làm chắc để đi nhanh, không lấy thận trọng làm lý do trì hoãn

Tôi xin gợi mở 4 trọng tâm mà Hội nghị Trung ương 4 cần tập trung giải quyết:

I. Nâng cao năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn và định hướng phát triển đất nước của Đảng

Năng lực lãnh đạo của Đảng được bồi đắp từ sự kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khả năng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Tổng kết 15 năm thực hiện nghị quyết, kết luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần làm rõ: những chuyển biến trong tổ chức, xây dựng Đảng đã nâng cao chất lượng lãnh đạo, khả năng giải quyết các vấn đề phát triển và củng cố niềm tin của Nhân dân đến đâu? Các tổ chức Đảng và đảng viên mạnh lên, trưởng thành lên ở những lĩnh vực nào? Lĩnh vực nào cần khắc phục.

Trung ương cần nhìn thẳng vào những hạn chế kéo dài: vì sao tồn tại, khuyết điểm đã được chỉ ra nhưng chậm sửa chữa; vi phạm đã được cảnh báo nhưng vẫn tái diễn; có nội dung đúng quy trình mà chưa chọn đúng người, chưa giải quyết được việc, hiệu quả thấp. Các Nghị quyết mới phải xử lý căn nguyên, xác định trách nhiệm, kể cả trách nhiệm của cơ quan lãnh đạo, tham mưu ở Trung ương.

Nghị quyết mới phải kết hợp chặt chẽ xây dựng với chỉnh đốn, giáo dục. Phòng ngừa với xử lý nghiêm minh. Hình thành cơ chế để tổ chức đảng, từng đảng viên tự phát hiện, tự sửa chữa khuyết điểm. Xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh phải thể hiện ở sự liêm chính, công tâm, tôn trọng sự thật, bảo vệ cái đúng và trách nhiệm trước Nhân dân.

Phải thực sự dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng. Niềm tin của Nhân dân phải được bồi đắp từ việc lắng nghe, tiếp thu ý kiến đúng, giải quyết quyền lợi chính đáng và sửa chữa khuyết điểm của cán bộ, đảng viên. Cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm Nhân dân tham gia đóng góp chủ trương, giám sát thực hiện và thụ hưởng thành quả. Đó là nền tảng để củng cố đại đoàn kết, quy tụ sức mạnh dân tộc.

Các đề cương tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, 40 năm thực hiện Cương lĩnh và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng cần được đặt trong yêu cầu chuẩn bị nền tảng cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Tổng kết phải lý giải được thành công, hạn chế, khuyết điểm và những vấn đề mới về con đường phát triển đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng. Tầm nhìn 2030-2130 cần xác định những giá trị phải giữ vững, năng lực cần tích lũy và trách nhiệm với các thế hệ sau; không biến tầm nhìn dài hạn thành dự báo cứng nhắc.

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ phải gắn với các tổng kết nêu trên. Giữ vững nguyên tắc nền tảng, làm rõ yêu cầu mới về tổ chức, thẩm quyền, trách nhiệm và kiểm soát quyền lực.

Phân biệt vướng mắc do Điều lệ, văn bản thi hành hay tổ chức thực hiện; xác định rõ nội dung thuộc Điều lệ, nội dung do Trung ương quy định, vấn đề cần kiểm chứng. Chỉ đề xuất sửa đổi vấn đề cần thiết, có giá trị lâu dài; không chuyển cơ học nội dung nghị quyết vào Điều lệ. Hội nghị cho ý kiến về đề cương nghiên cứu, không giới hạn nội dung sửa đổi cụ thể; việc sửa đổi Điều lệ thuộc thẩm quyền của Đại hội.

II. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền để nâng cao hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị

Mô hình tổ chức thay đổi đòi hỏi hoàn thiện đồng bộ phương thức lãnh đạo, cầm quyền. Không thể chỉ sắp xếp lại bộ máy mà giữ nguyên cách làm việc không còn phù hợp. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền phải bảo đảm thống nhất về định hướng, phân định rõ trách nhiệm, phát huy đầy đủ thẩm quyền và tính chủ động của từng cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị.

Sơ kết Nghị quyết số 28 cần làm rõ phương thức lãnh đạo, cầm quyền phải đổi mới như thế nào để quyết sách có chất lượng hơn, bộ máy chủ động hơn, công việc được giải quyết tốt hơn. Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ phải vận hành thực chất, khắc phục bao biện, làm thay, buông lỏng lãnh đạo và xin ý kiến nhiều vòng đối với việc thuộc thẩm quyền.

Đảng lãnh đạo toàn diện bằng đường lối, định hướng chiến lược, công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát và sự gương mẫu. Phải phát huy đầy đủ chức năng, thẩm quyền của cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Trung ương quyết định những vấn đề lớn, liên ngành, liên vùng, có ý nghĩa lâu dài; cơ quan được giao thẩm quyền chủ động cụ thể hóa và chịu trách nhiệm việc tổ chức triển khai thực hiện.

Chất lượng lãnh đạo phải được nâng lên từ phát hiện vấn đề, dự báo, lựa chọn phương án đến quyết định, kiểm tra và điều chỉnh. Cần làm rõ cách khắc phục tình trạng nhiều văn bản, nhiều cuộc họp nhưng công việc chậm chuyển biến. Dữ liệu, công nghệ phải giúp tham mưu chính xác, nhận diện sớm nguy cơ; không thay thế trách nhiệm của tổ chức và người quyết định.

Phân cấp, phân quyền phải tạo năng lực hành động thực tế trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trung ương cần làm rõ quan hệ giữa quyền hạn, trách nhiệm và điều kiện thực hiện; cơ chế giải quyết việc liên ngành, liên cấp, vượt khả năng cơ sở. Không chuyển việc xuống dưới khi thiếu người, thiếu nguồn lực; không can thiệp làm mất quyền chủ động đã giao. Trách nhiệm tập thể và cá nhân phải được phân định, không chồng lấn hoặc thay thế nhau.

Việc thay thế Quy định số 21 cần bảo đảm thống nhất về tổ chức đảng, thẩm quyền thi hành kỷ luật, giải quyết khiếu nại kỷ luật và quy trình thực hiện, phù hợp với mô hình mới. Đồng thời, nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, phát hiện sớm sơ hở, kiểm soát cả lạm quyền và né tránh trách nhiệm. Giữ nghiêm kỷ luật đi đôi với bảo vệ cán bộ liêm chính, đổi mới vì lợi ích chung; không bao che sai phạm.

III. Đổi mới công tác cán bộ, trọng dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Quyết sách chỉ trở thành hiện thực khi có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và trách nhiệm thực hiện. Tổng kết Nghị quyết số 26 phải mở ra bước phát triển mới trong công tác cán bộ, chuẩn bị đội ngũ cán bộ từ yêu cầu nhiệm vụ và sự phát triển lâu dài. Cần quản lý đội ngũ thống nhất, liên thông; gắn nhiệm vụ chính trị, vị trí việc làm với tạo nguồn, đào tạo, đánh giá, bố trí và sàng lọc; khắc phục chia cắt theo từng khâu, từng cấp, từng nhiệm kỳ.

Đánh giá cán bộ phải nhận diện được phẩm chất, thực tài, uy tín và triển vọng qua công việc, nhất là cách xử lý việc khó. Kết quả phải đặt trong tương quan với thẩm quyền, nguồn lực và điều kiện thực hiện; không lấy thành tích bù trừ vi phạm về chính trị, đạo đức, liêm chính. Cần làm rõ cơ chế để đánh giá dẫn đến sử dụng đúng, giao việc xứng đáng hoặc thay thế kịp thời, làm rõ trách nhiệm của người đánh giá, giới thiệu, quyết định đối với cả kết quả và hệ quả của việc bố trí cán bộ.

Cán bộ cấp chiến lược phải có tầm nhìn, tư duy hệ thống, năng lực lựa chọn và tổ chức thực hiện những quyết sách lớn; cán bộ cơ sở phải nắm chắc địa bàn, có năng lực giải quyết công việc và phục vụ Nhân dân. Người đứng đầu phải biết phát hiện, trọng dụng người có đức, có tài, phát huy trí tuệ tập thể và chuẩn bị đội ngũ kế cận. Mỗi nhiệm kỳ phải để lại một đội ngũ tốt hơn, một tổ chức mạnh hơn, năng lực thực thi cao hơn.

Cần làm rõ cơ chế phát hiện, thu hút nguồn cán bộ từ khu vực ngoài nhà nước và người Việt Nam ở nước ngoài; chuẩn bị nguồn cán bộ mở, nhiều lớp, nhiều phương án; tạo cơ hội cho cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học kỹ thuật. Phát triển tương xứng cả đội ngũ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia chuyên môn sâu; coi trọng tiêu chuẩn thực chất, điều kiện thực hiện ở cơ sở, tránh cơ cấu hình thức.

Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững” phải xuất phát từ những nhiệm vụ chiến lược và năng lực đất nước đang thiếu. Cần đào tạo, thu hút, kết nối nhân tài ra sao để làm chủ công nghệ, nâng năng suất và sức tự chủ? Trọng dụng là khâu then chốt, tạo nguồn là công việc căn bản, lâu dài.

Cần thảo luận cơ chế giao nhiệm vụ lớn, trao quyền thực chất, bảo đảm nguồn lực và đánh giá theo đóng góp; tạo môi trường tôn trọng sáng tạo, chấp nhận rủi ro nghiên cứu có kiểm soát. Kết nối nhân tài trong nước, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế; liên thông trường, viện, doanh nghiệp, khu vực công và tư. Thu hút được người tài phải đi cùng sử dụng hiệu quả, phát triển đội ngũ kế cận và chuyển giao tri thức.

IV. Xác định đúng ưu tiên, phát huy hiệu quả nguồn lực để phát triển nhanh và bền vững

Đánh giá chung, tình hình kinh tế - xã hội năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, GDP trong 9 tháng của cả nước đạt 9,01%, trong đó có 12/34 tỉnh, thành đạt trên 10%. Tuy nhiên, dư địa điều hành vĩ mô đang bị thu hẹp.

Đề nghị Trung ương đánh giá kết quả toàn diện năm 2026, làm rõ mức độ hoàn thành các mục tiêu và nền tảng tăng trưởng cho những năm tiếp theo. Cần xem xét chất lượng tăng trưởng qua năng suất, sức khỏe doanh nghiệp, thu nhập và đời sống Nhân dân; chỉ rõ những hạn chế của các động lực phát triển, nguyên nhân và trách nhiệm và việc cần tập trung để hoàn thành cao nhất nhiệm vụ năm 2026. Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển là thước đo quan trọng về hiệu quả quyết sách, chất lượng công tác cán bộ và năng lực tổ chức thực hiện.

Năm 2027 phải tăng tốc, bứt phá, chuyển biến mạnh mẽ, tạo đà thực hiện mục tiêu cả nhiệm kỳ. Đề nghị Trung ương thảo luận kỹ mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu chủ yếu và giải pháp trọng tâm, nhất là cơ sở, điều kiện phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, lạm phát khoảng 4,5%.

Vấn đề là tạo được động lực tăng trưởng mạnh hơn, đồng thời củng cố ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn và sức chống chịu của nền kinh tế. Kế hoạch năm phải cụ thể hóa Kết luận số 18-KL/TW, gắn tăng tốc với triển khai đổi mới mô hình phát triển.

Trung ương cần làm rõ: đâu là những khâu đột phá để chuyển nguồn lực thành năng lực sản xuất, kinh doanh và kết quả phát triển thực chất? Cần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng cao năng lực hấp thụ vốn, bảo đảm hạ tầng, năng lượng, nhân lực; khơi thông đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài, cả trực tiếp và gián tiếp, củng cố sức mua, nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

Thu hút đầu tư nước ngoài phải gắn với chuyển giao công nghệ, liên kết doanh nghiệp và nâng giá trị gia tăng trong nước. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phải trở thành nguồn tăng năng suất. Nguồn lực công phải tạo sức lan tỏa, thu hút đầu tư xã hội và lợi ích thiết thực cho Nhân dân. Phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ cần tạo điều kiện cho tăng trưởng, giữ vững ổn định; lựa chọn đúng ưu tiên, xác định rõ lộ trình và trách nhiệm thực hiện.

Về ngân sách Nhà nước, đề nghị Trung ương đánh giá năm 2026, cho ý kiến về dự toán năm 2027, làm rõ khả năng cân đối và những điều chỉnh cần thiết để phục vụ yêu cầu tăng tốc, bứt phá. Huy động nguồn thu phải gắn với nuôi dưỡng nguồn thu, phát triển doanh nghiệp.

Phân bổ nguồn lực cần bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương, phát huy tính chủ động của địa phương; hài hòa giữa đầu tư phát triển, cải cách tiền lương và an sinh xã hội. Cần thảo luận cơ chế khắc phục dàn trải, ràng buộc chưa hợp lý, tiết kiệm ngay từ phân bổ để tập trung cho nhiệm vụ trọng điểm; đánh giá hiệu quả chi qua kết quả thực tế. Điều hành và đánh giá thực hiện dự toán cần linh hoạt trước biến động, thay đổi chính sách, gắn với kỷ luật tài chính, trách nhiệm giải trình và khả năng cân đối lâu dài.

Phát huy hiệu quả nguồn lực đòi hỏi tạo điều kiện để các thành phần kinh tế, mỗi người dân đóng góp và làm giàu chính đáng. Quy định về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh cần được xem xét trong yêu cầu đó, gắn tính tiên phong trong phát triển kinh tế với giữ vững bản chất của Đảng, tăng cường xây dựng Đảng trong khu vực ngoài nhà nước.

Cần làm rõ quyền, điều kiện, giới hạn phù hợp với địa vị pháp lý, chức trách và nguy cơ xung đột lợi ích; bảo vệ hoạt động kinh tế hợp pháp, kiểm soát chủ thể thực sự chi phối, hưởng lợi. Không để quyền lực, thông tin, tài sản công trở thành lợi thế riêng.

Mọi lựa chọn phát triển phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, mở rộng cơ hội và bảo đảm công bằng trong thụ hưởng của Nhân dân. Giáo dục, y tế, văn hóa, nhà ở, an sinh xã hội phải được đặt trong chất lượng phát triển, chú trọng người yếu thế, vùng khó khăn. Tăng trưởng phải gắn với bảo vệ môi trường, phòng ngừa thiên tai, củng cố quốc phòng, an ninh; giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển lâu dài của đất nước.

Thưa các đồng chí,

Bốn trọng tâm trên cùng hướng tới một yêu cầu: xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đủ sức lãnh đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển, phát huy sự tham gia và sức sáng tạo của toàn dân. Trong quá trình xem xét các nội dung của chương trình, đề nghị Trung ương tập trung làm rõ 4 vấn đề xuyên suốt.

Trước hết, mỗi đề án phải xác định đúng những vấn đề cần giải quyết. Vướng ở chủ trương, thể chế hay ở tổ chức thực hiện, phối hợp và trách nhiệm cá nhân? Vì sao quy định đã sửa, nguồn lực đã giao mà công việc vẫn chậm? Phân biệt rõ bất cập của chủ trương với yếu kém trong thực hiện; bảo đảm các quyết sách thống nhất, không tháo gỡ ở lĩnh vực này lại tạo rào cản ở lĩnh vực khác.

Thứ hai, các chủ trương, định hướng lớn đã xác định phải được thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ và tổ chức thi hành hiệu quả. Cần sửa luật, chính sách nào; cơ quan nào chủ trì, thời hạn nào hoàn thành? Không để lợi ích cục bộ, thủ tục phát sinh làm thu hẹp chủ trương. Trách nhiệm phải gắn với chất lượng, tiến độ thể chế hóa và kết quả thi hành.

Thứ ba, phải bảo đảm con người, thẩm quyền và nguồn lực ngay khi quyết định. Làm đâu chắc đó: việc đã rõ thì quyết định, triển khai kịp thời; việc mới, khó cần thí điểm phải rõ phạm vi, thẩm quyền, thời hạn, cơ chế kiểm soát và tiêu chí đánh giá. Làm chắc để đi nhanh, không lấy thận trọng làm lý do trì hoãn. Nhưng cũng tuyệt đối không được chủ quan, nóng vội.

Thứ tư, mỗi quyết sách phải có cách kiểm chứng kết quả và điều chỉnh từ thực tiễn. Vấn đề nào được giải quyết, nguồn lực nào được khơi thông, Nhân dân được hưởng lợi gì ? Mọi kết quả phải đảm bảo tính hiệu quả. Nhiệm vụ trước mắt phải gắn với kế hoạch, ngân sách năm 2027; nghiên cứu dài hạn phải rõ sản phẩm, tiến độ, trách nhiệm.

Đề nghị các đồng chí Trung ương thảo luận dân chủ, thẳng thắn, đi sâu vào những lựa chọn lớn, những vấn đề còn khác nhau; nêu rõ căn cứ, phương án và kiến nghị. Trung ương phải nêu gương về bản lĩnh quyết định, tinh thần tự phê bình và trách nhiệm thực hiện. Mọi lựa chọn phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân lên trên hết.

Với tinh thần đó, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp”.

Tin bài khác
Mỹ-Hàn tiếp tục trao đổi về triển khai cam kết đầu tư 350 tỷ USD

Mỹ-Hàn tiếp tục trao đổi về triển khai cam kết đầu tư 350 tỷ USD

Washington và Seoul tiếp tục trao đổi về việc triển khai cam kết đầu tư 350 tỷ USD của Hàn Quốc vào Mỹ, trong bối cảnh chính quyền Tổng thống Donald Trump thúc đẩy chính sách thuế quan, thu hút sản xuất trong nước và đề cập khả năng hợp tác tại dự án khí tự nhiên hóa lỏng Alaska.
Điện Biên bứt tốc quý III, GRDP ước tăng 11,67%

Điện Biên bứt tốc quý III, GRDP ước tăng 11,67%

GRDP quý III/2026 của Điện Biên ước tăng 11,67%, đứng thứ 8 cả nước. Nhiều ngành vượt kịch bản, tạo thêm động lực cho tăng trưởng những tháng cuối năm.
Dòng chảy 888 tỷ USD, doanh nghiệp Việt đứng ở đâu?

Dòng chảy 888 tỷ USD, doanh nghiệp Việt đứng ở đâu?

Quy mô thương mại hàng hóa của Việt Nam đang tiến sát mốc 900 tỷ USD, song bức tranh 9 tháng năm 2026 cho thấy một sự thay đổi đáng chú ý: nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu và khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu. Đằng sau những con số lớn là bài toán nâng năng lực sản xuất và giữ lại nhiều hơn giá trị trong nước.
Xuất nhập khẩu tháng 9 đảo chiều, 9 tháng vẫn nhập siêu gần 19,4 tỷ USD

Xuất nhập khẩu tháng 9 đảo chiều, 9 tháng vẫn nhập siêu gần 19,4 tỷ USD

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2026 đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 9 đã chuyển sang xuất siêu 1,27 tỷ USD, song tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD.
Phú Thọ yêu cầu xử lý hàng loạt kiến nghị của doanh nghiệp

Phú Thọ yêu cầu xử lý hàng loạt kiến nghị của doanh nghiệp

Từ hoàn thuế hơn 21 tỷ đồng, giao 126ha đất sạch đến phát triển nhà ở xã hội, xe buýt cho công nhân, Phú Thọ đang yêu cầu các sở, ngành xử lý cụ thể từng “điểm nghẽn” của doanh nghiệp.
Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.
Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Sau 9 tháng duy trì đà tăng trưởng, Hải Phòng bước vào quý IV với mục tiêu GRDP tăng 14,5% - mức tăng đòi hỏi thành phố phải tháo gỡ nhanh các điểm nghẽn, đẩy mạnh đầu tư công và huy động tối đa các động lực tăng trưởng.
Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Kết luận số 99-KL/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia đối với không gian tầm thấp theo hướng thống nhất, hiện đại, dựa trên dữ liệu và quản trị rủi ro; đồng thời phát triển hạ tầng, công nghệ, nhân lực và hệ sinh thái doanh nghiệp để hình thành một lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật mới.
Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp tiếp tục trở thành điểm sáng của nền kinh tế khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, đóng góp 10 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, GDP Việt Nam 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, trong khi khu vực dịch vụ duy trì đà tăng tích cực.
Quốc hội đề xuất kéo dài hiệu lực văn bản theo Nghị quyết 206/2025/QH15 để tránh khoảng trống pháp lý

Quốc hội đề xuất kéo dài hiệu lực văn bản theo Nghị quyết 206/2025/QH15 để tránh khoảng trống pháp lý

Chiều 2/10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về Báo cáo của Chính phủ đánh giá tình hình thi hành Nghị quyết số 206/2025/QH15, trong đó đáng chú ý là đề xuất kéo dài hiệu lực các văn bản đã được ban hành theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết này.
Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Diễn đàn tại Đồng Tháp đặt trọng tâm vào đổi mới tư duy, liên kết nguồn lực và hợp lực công tư, hướng tới chuyển lợi thế nông nghiệp, công nghiệp, logistics và thị trường thành chuỗi giá trị mới cho doanh nghiệp.
Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Từ quản trị, dữ liệu, công nghệ đến tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế, Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 đặt ra yêu cầu chuyển tiềm năng biển thành năng lực thực tế, tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế biển xanh và bền vững.
Đắk Lắk vượt kịch bản giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng và phản ứng chính sách cho "tháng trọng điểm"

Đắk Lắk vượt kịch bản giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng và phản ứng chính sách cho "tháng trọng điểm"

Tính đến 12 giờ ngày 30/9/2026, Đắk Lắk đã ghi nhận dòng vốn đầu tư công giải ngân đạt hơn 7.096,5 tỷ đồng, chính thức cán mốc 101% so với cam kết đăng ký với Bộ Tài chính. Sự bứt phá này cho thấy hiệu quả điều hành sát sao của chính quyền, song áp lực giải ngân 100% cho cả năm vẫn đòi hỏi những chuyển dịch quản trị quyết liệt, không có chỗ cho sự chủ quan.
Sơn La: Khối văn hóa - xã hội tăng trưởng 7,39% sau 9 tháng

Sơn La: Khối văn hóa - xã hội tăng trưởng 7,39% sau 9 tháng

9 tháng đầu năm 2026, khối văn hóa - xã hội của Sơn La tăng 7,39%, cao hơn 1,8 điểm phần trăm so với tăng trưởng chung, góp phần quan trọng vào GRDP tỉnh.