Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt khoảng 17,2 tỷ USD, tăng gần 6% so với năm trước. Trong 9 tháng đầu năm 2026, con số này đạt 13,43 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ. Kết quả cho thấy năng lực sản xuất và chế biến của ngành đã được khẳng định, nhưng việc phát triển thị trường nội địa dường như vẫn còn nhiều bỏ ngỏ, vẫn là hướng đi cần được quan tâm và đầu tư bài bản.
Thay vì chỉ tìm cách mở rộng sức mua, bài toán đặt ra là làm thế nào để thị trường trong nước tạo động lực nâng cấp sản phẩm. Trong đó, mua sắm công xanh có thể trở thành một công cụ đáng chú ý, bởi cách Nhà nước lựa chọn sản phẩm không chỉ quyết định chất lượng công trình sử dụng mà còn phát đi tín hiệu về tiêu chuẩn đối với toàn bộ chuỗi cung ứng.
Tiêu chuẩn mua sắm có thể thay đổi cách doanh nghiệp cạnh tranh
Một trong những điểm nghẽn của thị trường gỗ nội địa là thiếu sự đồng bộ về tiêu chuẩn chất lượng, nguồn gốc nguyên liệu và thông tin sản phẩm. Người tiêu dùnga trong nước chưa phải lúc nào cũng có đủ thông tin để phân biệt sản phẩm được làm từ nguồn gỗ hợp pháp, có độ bền cao với sản phẩm chủ yếu cạnh tranh bằng giá. Ở phía đối diện, hàng xuất khẩu luôn phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng chặt chẽ của thị trường nhập khẩu.
![]() |
| Với ngành gỗ Việt Nam, khai thác thị trường nội địa không chỉ là câu chuyện gia tăng quy mô tiêu thụ mà còn là quá trình nâng cao chất lượng thị trường và giá trị sản phẩm - Ảnh minh họa. |
Theo ông Ngô Sỹ Hoài - Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), với dân số hơn 100 triệu người, thị trường nội địa có thể trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của ngành. Mức chi tiêu bình quân cho sản phẩm gỗ và nội thất hiện khoảng 50 USD/người/năm. Nếu duy trì tốc độ tăng trưởng 7-9% mỗi năm, quy mô thị trường có thể tiến tới khoảng 8 tỷ USD vào năm 2030.
Dư địa không chỉ nằm ở nội thất gia đình mà còn ở bàn ghế trường học, trang thiết bị bệnh viện, công sở, đồ gỗ công trình, giấy, bao bì và vật liệu từ gỗ. Đây là những nhóm sản phẩm có nhu cầu gắn với hoạt động xây dựng, vận hành và thay thế trang thiết bị thường xuyên của xã hội.
Tuy nhiên, thị trường lớn chưa đồng nghĩa với cơ hội tự động chuyển thành doanh thu. Để mở rộng thị phần, doanh nghiệp cần chứng minh được chất lượng, độ an toàn, độ bền và khả năng đáp ứng yêu cầu sử dụng. Nếu tiêu chí mua sắm chỉ tập trung vào giá chào thầu ban đầu, những đơn vị đầu tư nghiêm túc cho nguyên liệu hợp pháp, thiết kế và kiểm soát chất lượng có thể gặp bất lợi trước các sản phẩm giá thấp hơn.
Vì vậy, chuẩn hóa tiêu chí mua sắm không đơn thuần là yêu cầu quản lý, mà còn có thể tạo sân chơi cạnh tranh dựa trên chất lượng. Khi tiêu chuẩn được công bố rõ ràng và áp dụng nhất quán, doanh nghiệp có cơ sở tính toán chi phí đầu tư, cải tiến sản phẩm và xây dựng lợi thế dài hạn.
Mua sắm công xanh cần tính cả vòng đời sản phẩm
Bàn ghế trường học là ví dụ cho thấy việc lựa chọn đồ gỗ không thể chỉ dừng ở giá mua. Theo ông Tô Xuân Phúc - Giám đốc điều hành Forest Trends Việt Nam, nhiều bộ bàn ghế đã được sử dụng khoảng 20 năm, không còn phù hợp với thể trạng học sinh hiện nay. Khảo sát trực tuyến với 2.200 phụ huynh được ông dẫn lại cho thấy 90% người tham gia nhận định bàn ghế thấp khiến con em phải khom lưng, ngồi không thoải mái, thậm chí tiềm ẩn nguy cơ gây mắc những căn bệnh về xương.
Từ thực tế này, vấn đề không chỉ là thay thế trang thiết bị cũ mà còn là cách xác định tiêu chí đầu tư. Một sản phẩm phù hợp cần đáp ứng kích thước theo đối tượng sử dụng, độ bền, khả năng sửa chữa, độ an toàn hóa chất và nguồn gốc nguyên liệu. Nếu những yêu cầu đó được đưa vào hồ sơ mời thầu một cách cụ thể, cơ quan mua sắm có thể đánh giá sản phẩm toàn diện hơn thay vì chỉ so sánh lợi thế giá ban đầu.
![]() |
| Khi các chuẩn mực về nguồn gốc, chất lượng và an toàn được xác lập, cùng với lực kéo từ mua sắm công xanh, thị trường trong nước có thể trở thành động lực thúc đẩy đầu tư vào chế biến sâu, phát triển thương hiệu và nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn ngành. |
Mua sắm công xanh vì thế cần được hiểu theo hướng rộng hơn việc lựa chọn sản phẩm có nhãn môi trường. Với đồ gỗ, tính hợp pháp của nguyên liệu, độ bền, khả năng bảo trì và thời gian sử dụng đều có ý nghĩa đối với hiệu quả chi tiêu ngân sách. Sản phẩm có giá mua cao hơn chưa chắc đắt hơn nếu sử dụng lâu dài, ít phải sửa chữa hoặc thay mới; ngược lại, giá thấp lại trở thành... đắt đỏ nếu không bảo đảm hiệu quả, sản phẩm nhanh xuống cấp.
Khảo sát do VCCI và Forest Trends thực hiện qua rà soát hồ sơ mời thầu đồ gỗ giai đoạn 2016-2018, cho thấy 77% hồ sơ không đề cập đến tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ, trong khi khoảng 11% yêu cầu sử dụng gỗ quý, tiềm ẩn rủi ro cao về tính hợp pháp. Đây là kết quả nghiên cứu từ giai đoạn trước, không nên xem như tỷ lệ hiện hành của toàn bộ hoạt động mua sắm công. Tuy vậy, số liệu cho thấy việc cụ thể hóa tiêu chí nguồn gốc gỗ trong đấu thầu từng là một khoảng trống đáng kể.
Đối với thị trường hiện nay, yêu cầu quan trọng là cập nhật và áp dụng tiêu chí theo hướng minh bạch, có thể kiểm tra, đồng thời bảo đảm không tạo ra rào cản thiếu cần thiết đối với doanh nghiệp. Việc xác định rõ hồ sơ chứng minh nguồn gốc, yêu cầu kỹ thuật và phương pháp đánh giá sẽ giúp cả bên mua lẫn nhà cung cấp giảm rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Từ đơn hàng công đến đầu tư chế biến sâu
Nếu được thiết kế phù hợp, mua sắm công xanh có thể tạo tín hiệu nhu cầu tương đối ổn định cho doanh nghiệp. Khi trường học, bệnh viện, công sở và các công trình công cộng đặt ra yêu cầu rõ ràng về độ bền, an toàn và nguồn gốc gỗ, nhà sản xuất có thêm cơ sở để đầu tư vào thiết kế, công nghệ chế biến và hệ thống kiểm soát chất lượng.
Tác động tiềm năng không chỉ dừng ở các nhà máy sản xuất đồ nội thất. Nhu cầu đối với sản phẩm sử dụng gỗ rừng trồng hợp pháp trong nước còn có thể tạo liên kết giữa người trồng rừng, cơ sở sơ chế, doanh nghiệp chế biến và đơn vị phân phối. Thay vì chủ yếu tiêu thụ nguyên liệu ở dạng giá trị thấp, chuỗi sản xuất có thêm động lực phát triển sản phẩm hoàn chỉnh, qua đó nâng giá trị thu được trên mỗi đơn vị nguyên liệu.
Dù vậy, sức mua từ khu vực công chỉ có thể phát huy vai trò khi đi cùng cơ chế triển khai khả thi. Các tiêu chí xanh cần được lượng hóa phù hợp với từng nhóm sản phẩm; hồ sơ mời thầu phải đủ rõ để nhà cung cấp chuẩn bị; cán bộ thực hiện cần có hướng dẫn đánh giá; còn việc lựa chọn nhà thầu phải bảo đảm cạnh tranh và tuân thủ quy định về đấu thầu, ngân sách.
Một thách thức khác là khả năng cân đối giữa tiêu chuẩn và chi phí. Theo ông Ngô Sỹ Hoài, sản phẩm gỗ chất lượng cao, thân thiện với môi trường thường có giá nhỉnh hơn. Vì vậy, cần nghiên cứu cơ chế phù hợp để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia, đồng thời bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công. VIFOREST đề xuất giai đoạn 2028-2029 có thể áp dụng chuẩn mua sắm công xanh, nhãn sản phẩm gỗ bền vững và hệ thống tiêu chuẩn đối với các nhóm sản phẩm chủ yếu.
Thị trường nội địa cần một chuẩn cạnh tranh mới
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Minh Cương - Chủ nhiệm Câu lạc bộ HAWA miền Bắc, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Gỗ Minh Long, cho rằng thị trường trong nước là cơ hội để doanh nghiệp Việt phát huy lợi thế về thiết kế, văn hóa và khả năng thấu hiểu nhu cầu người tiêu dùng.
Từng tập trung sản xuất nguyên liệu phục vụ ngành nội thất xuất khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản và châu Âu, Gỗ Minh Long đã chuyển hướng khi nhận thấy hoạt động gia công chưa tạo ra nhiều giá trị về chất xám. Theo thông tin doanh nghiệp chia sẻ, hiện khoảng 95% hoạt động tập trung vào thị trường nội địa, xuất khẩu chiếm khoảng 3-5%.
Trường hợp này cho thấy phát triển thị trường nội địa có thể đi cùng quá trình chuyển đổi mô hình kinh doanh: từ cung cấp nguyên liệu hoặc gia công sang chủ động hơn về sản phẩm và giá trị. Tuy nhiên, để hướng đi này lan tỏa, doanh nghiệp vẫn cần đầu tư vào nghiên cứu thiết kế, chất lượng, thương hiệu, dịch vụ hậu mãi và khả năng đáp ứng các điều kiện sử dụng khác nhau giữa các vùng khí hậu.
Về phía chính sách, tiêu chuẩn sản phẩm cần được xây dựng theo hướng có thể thực thi, còn mua sắm công xanh cần được triển khai với lộ trình, tiêu chí và cơ chế giám sát rõ ràng. Đây là điều kiện để ngân sách công vừa mua được sản phẩm phù hợp, vừa góp phần khuyến khích sản xuất có trách nhiệm.
Đối với ngành gỗ Việt Nam, cơ hội không chỉ nằm ở việc bán thêm sản phẩm cho hơn 100 triệu dân, mà còn ở khả năng nâng chuẩn của chính thị trường trong nước. Khi chất lượng, tính hợp pháp và hiệu quả sử dụng trở thành căn cứ cạnh tranh, mua sắm công xanh có thể góp phần tạo đầu ra cho sản phẩm giá trị cao, thúc đẩy chế biến sâu và giúp doanh nghiệp xây dựng năng lực cạnh tranh bền vững hơn.
