Chủ nhật 18/10/2026 12:35
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Không được xuất cảnh vì nợ thuế

12/10/2020 00:00
Đến sân bay làm thủ tục xuất cảnh, nhiều người tá hỏa với lý do không được xuất cảnh vì nợ thuế. Áp dụng hình thức cấm xuất cảnh vì nợ thuế hiện nay đang vướng nhiều cái sai…

Đến sân bay làm thủ tục đi nước ngoài, nhiều người tá hỏa khi bị lập biên bản dừng xuất cảnh - Ảnh: Lê Thị Thúy

Ngày 12-4-2019, ông H.V.H. làm thủ tục xuất cảnh du lịch Hong Kong tại sân bay Tân Sơn Nhất bỗng nhận được thông báo cấm xuất cảnh. Lý do: theo đề nghị của Chi cục Thuế (CCT) Q.8 (TP.HCM), Công ty N (do ông H. đứng tên trước đây) còn nợ thuế.

Không còn nợ vẫn bị cấm

16h ngày 17-3-2018, ông T.V.T. đến làm thủ tục xuất cảnh tại sân bay quốc tế Nội Bài để đi nước ngoài đàm phán ký kết hợp đồng cũng bị lập biên bản không cho xuất cảnh. Theo thông báo của CCT Q.12, TP.HCM, ông T. là người đại diện và cũng là chủ sở hữu Công ty TB và công ty này đang nợ thuế.

Ông P.P.V. cũng bị cấm xuất cảnh do Công ty T có trụ sở tại Q.8 do ông làm giám đốc đang nợ thuế. Bà N.T.H.T. - giám đốc, chủ sở hữu Công ty KT - cũng bị CCT Q.4 đề nghị cấm xuất cảnh do công ty còn nợ thuế.

Trường hợp của bà L.T.H.M. không còn nợ thuế vẫn bị cấm xuất cảnh. Bà M. từng đứng tên hộ kinh doanh tại Q.Bình Tân. Trước chuyến đi Hàn Quốc, bà đã đến CCT Q.Bình Tân xin giấy xác nhận không nợ thuế.

Cầm giấy xác nhận trong tay, đến sân bay trình cán bộ cửa khẩu vẫn không được xuất cảnh. Bà quay về CCT quận và Cục Quản lý xuất nhập cảnh mới hay: dù CCT Q.Bình Tân đã xác nhận không nợ thuế, đã gửi công văn này cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh nhưng nơi này chưa cập nhật dữ liệu nên bà bị cấm xuất cảnh.

Sau đó, bà M. phải làm đủ thứ đơn từ giải trình và sau 7 ngày mới được giải tỏa lệnh cấm xuất cảnh. Hàng hóa mang theo chuyến đi hư hỏng, vé cũng bị hủy do hãng hàng không chỉ chấp nhận đổi chuyến trong 5 ngày.

Nhiều người khi đến sân bay làm thủ tục mới biết mình bị cấm xuất cảnh. Họ không được ai thông báo về việc mình bị cấm xuất cảnh. Kèm theo việc này là thiệt hại các kiểu.

Thẩm quyền thuộc về ai?

Cơ quan thuế vận dụng khoản 1c điều 47, khoản 1 điều 73 và khoản 1c điều 110 Luật doanh nghiệp để buộc chủ sở hữu, người đại diện doanh nghiệp chịu trách nhiệm về các khoản nợ thuế của doanh nghiệp.

Theo những quy định trên, chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp. Hiện nay nhiều CCT hiểu và áp dụng luật theo cách này không đúng đối tượng dẫn đến nhiều trường hợp bị cấm xuất cảnh oan.

Khoản 4 điều 21 nghị định 136/2007 quy định công dân Việt Nam chưa được xuất cảnh nếu đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính.

Hiểu nôm na, người nào đang nợ thuế thì không được xuất cảnh. Thẩm quyền quyết định việc này là bộ trưởng hoặc chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, không thuộc ngành thuế.

Điều 53 Luật quản lý thuế và điều 40 nghị định 83/2013 quy định người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế. Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm dừng việc xuất cảnh của cá nhân chưa hoàn thành nghĩa vụ theo thông báo của cơ quan quản lý thuế.

Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm dừng việc xuất cảnh của cá nhân khi có thông báo (bằng văn bản hoặc thông tin điện tử) từ cơ quan thuế. Theo quy định này, thẩm quyền dừng xuất cảnh thuộc về cơ quan thuế.

Vì có sự khác nhau về quy định dừng xuất cảnh do nợ thuế, khi thực hiện sẽ áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn hoặc văn bản được ban hành sau nếu cùng cơ quan ban hành.

Những trường hợp này phải áp dụng Luật quản lý thuế và nghị định 83/2013 chứ không thể áp dụng nghị định 136/2007 như cơ quan thuế đang làm. Người xuất cảnh không phải để định cư thì không được quyền áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh đối với họ.

Chúng tôi hiểu, cá nhân xuất cảnh không phải định cư thì không được cấm họ xuất cảnh, chỉ được dừng xuất cảnh định cư khi họ chưa góp đủ vốn như đã cam kết cho doanh nghiệp, đồng thời cơ quan thuế phải chứng minh được việc nợ thuế này là do việc chưa góp đủ vốn đó.

Chỉ cấm xuất cảnh để định cư Những trường hợp bị nợ thuế, cơ quan thuế yêu cầu cấm xuất cảnh như trên áp dụng quy định nào cũng sai. Cá nhân nợ thuế chỉ bị cấm xuất cảnh khi mục đích xuất cảnh để định cư, còn các trường hợp xuất cảnh khác không được cấm.

Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân nếu có nợ thuế cũng không được cấm xuất cảnh chủ sở hữu, người đại diện theo pháp luật, giám đốc.

Theo điều 74 Bộ luật dân sự (BLDS), pháp nhân có tài sản độc lập với tài sản của chủ sở hữu và nhân danh mình thực hiện quan hệ pháp luật.Theo điều 87, người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện.

Trong dự thảo Luật quản lý thuế sửa đổi, cơ quan soạn thảo đã "cài cắm" thêm trường hợp doanh nghiệp nợ thuế thì người đại diện theo pháp luật bị cấm xuất cảnh, tuy nhiên vẫn chỉ là xuất cảnh để định cư. Quy định này trái với nguyên tắc cơ bản của BLDS và làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư kinh doanh, cần được loại bỏ trong dự thảo Luật quản lý thuế mới.

Thẩm quyền đề nghị cấm xuất cảnh do nợ thuế không nên giao cho cơ quan thuế vì dễ phát sinh tiêu cực và bị lạm dụng, gây khó cho người dân, nên giao cho chủ tịch UBND cấp tỉnh như trong nghị định 136/2007.

Cần có sự liên thông giữa cơ quan thuế và cơ quan xuất nhập cảnh về việc xử lý thông tin cấm xuất cảnh người nợ thuế để giải quyết nhanh chóng, không thể làm theo cách thủ công, người dân phải làm nhiều thủ tục phiền phức như hiện nay.

Cơ quan soạn thảo Luật quản lý thuế mới nên làm rõ hơn những trường hợp bị cấm xuất cảnh do nợ thuế để việc áp dụng được thống nhất, tránh gây ra những phiền toái không đáng có cho người nộp thuế cũng như cơ quan thuế.

Luật sư Nguyễn Hoàng Hải

(Đoàn Luật sư TP.HCM)

Lê Thị Thủy

Tin bài khác
Nghị định 374/2026/NĐ-CP: Mở cửa đấu thầu theo FTA, doanh nghiệp Việt có thêm thị trường hay thêm đối thủ?

Nghị định 374/2026/NĐ-CP: Mở cửa đấu thầu theo FTA, doanh nghiệp Việt có thêm thị trường hay thêm đối thủ?

Nghị định 374 mở rộng không gian đấu thầu theo CPTPP, EVFTA và UKVFTA, nhưng cơ hội không chia đều. Doanh nghiệp nhỏ chịu sức ép cạnh tranh, còn hộ kinh doanh phải chứng minh năng lực dự thầu. Cánh cửa mở, liệu ai thực sự đủ sức bước qua?
Thông tư số 141/2026/TT-BTC (kỳ 3): Đào tạo 10.000 CEO, doanh nghiệp có thực sự mạnh lên?

Thông tư số 141/2026/TT-BTC (kỳ 3): Đào tạo 10.000 CEO, doanh nghiệp có thực sự mạnh lên?

Chương trình đào tạo 10.000 CEO không thể chỉ dừng ở chứng nhận hoàn thành khóa học. Thông tư 141 đặt trọng tâm vào cố vấn, ứng dụng kiến thức và đánh giá hiệu quả. Vấn đề là ngân sách hỗ trợ có thực sự giúp doanh nghiệp mạnh lên?
Nghị định 365/2026/NĐ-CP (kỳ 1): Xuất khẩu gạo trước bước ngoặt chính sách, cửa mở rộng, doanh nghiệp nhỏ có dễ bước vào?

Nghị định 365/2026/NĐ-CP (kỳ 1): Xuất khẩu gạo trước bước ngoặt chính sách, cửa mở rộng, doanh nghiệp nhỏ có dễ bước vào?

Nghị định 365 mở cơ hội gia nhập thị trường xuất khẩu gạo khi giảm điều kiện kinh doanh và đẩy mạnh hậu kiểm. Nhưng với doanh nghiệp nhỏ, chi phí hạ tầng, trách nhiệm pháp lý và khả năng liên kết vẫn là phép thử không dễ vượt qua.
Thông tư 141: Học bổng đào tạo CEO và những rủi ro pháp lý doanh nghiệp cần biết

Thông tư 141: Học bổng đào tạo CEO và những rủi ro pháp lý doanh nghiệp cần biết

Thông tư 141 mở cơ hội nhận học bổng đào tạo CEO, nhưng hỗ trợ ngân sách không đồng nghĩa miễn trách nhiệm. Doanh nghiệp cần kê khai trung thực, tránh nhận hỗ trợ trùng lặp, bảo đảm hoàn thành khóa học và kiểm soát tốt rủi ro pháp lý.
Bộ Tài chính cắt giảm hai thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp nhà nước

Bộ Tài chính cắt giảm hai thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp nhà nước

Từ ngày 1/11/2026, hai thủ tục hành chính về xử lý miễn lãi các khoản lãi chậm nộp của Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp sẽ chính thức được bãi bỏ, theo Quyết định số 2885/QĐ-BTC của Bộ Tài chính.
10.000 CEO và câu hỏi lớn: Chính sách hỗ trợ có đến đúng doanh nghiệp cần nhất?

10.000 CEO và câu hỏi lớn: Chính sách hỗ trợ có đến đúng doanh nghiệp cần nhất?

Chương trình đào tạo 10.000 CEO mở cơ hội nâng cao năng lực quản trị cho doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, giới hạn học bổng, điều kiện thụ hưởng và khoảng trống đối với hộ kinh doanh đặt ra câu hỏi: chính sách có đến đúng nơi cần nhất không?
Nghị định 373/2026/NĐ-CP (Kỳ 3): Chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp đối diện phép thử trách nhiệm và cạnh tranh

Nghị định 373/2026/NĐ-CP (Kỳ 3): Chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp đối diện phép thử trách nhiệm và cạnh tranh

Nghị định 373/2026/NĐ-CP đặt doanh nghiệp chuyển đổi trước trách nhiệm duy trì dịch vụ công, kế thừa nghĩa vụ và bảo vệ người lao động. Cơ hội tham gia thị trường đi cùng sức ép quản trị, cạnh tranh, buộc nhà đầu tư tính chi phí và rủi ro.
Quy định mới về bí mật nhà nước của Quốc hội: Làm rõ 2 cấp độ bảo mật

Quy định mới về bí mật nhà nước của Quốc hội: Làm rõ 2 cấp độ bảo mật

Quyết định số 1978/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể 5 nhóm thông tin thuộc bí mật nhà nước độ Tối mật và 5 nhóm thuộc độ Mật trong hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội. Quyết định có hiệu lực từ ngày 13/10/2026, thay thế quy định ban hành năm 2020.
Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 3): Siết quản lý tài sản viện trợ, tăng trách nhiệm giải trình

Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 3): Siết quản lý tài sản viện trợ, tăng trách nhiệm giải trình

Thông tư 140/2026/TT-BTC yêu cầu quản lý tài sản viện trợ thuộc ngân sách nhà nước, từ ghi nhận hàng hóa, công trình đến quyết toán, báo cáo. Doanh nghiệp tham gia dự án cần chuẩn hóa chứng từ, nghiệm thu, kiểm soát công nợ và rủi ro pháp lý.
Thông tư 138/2026/TT-BTC (Kỳ 3): Tái cấu trúc nợ trái phiếu và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp

Thông tư 138/2026/TT-BTC (Kỳ 3): Tái cấu trúc nợ trái phiếu và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp

Thông tư 138/2026/TT-BTC đặt việc tái cấu trúc nợ trái phiếu trước yêu cầu minh bạch và bảo vệ trái chủ. Từ thay đổi kỳ hạn, thanh toán bằng tài sản khác đến giám sát dữ liệu, doanh nghiệp phải kiểm soát rủi ro pháp lý và dòng tiền.
Nghị định 373/2026/NĐ-CP (Kỳ 2): Định giá đơn vị sự nghiệp công lập, nhận diện rủi ro từ đất đai và công nợ

Nghị định 373/2026/NĐ-CP (Kỳ 2): Định giá đơn vị sự nghiệp công lập, nhận diện rủi ro từ đất đai và công nợ

Nghị định 373/2026/NĐ-CP đặt ra yêu cầu kiểm kê, định giá tài sản, xử lý đất đai và công nợ khi chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp. Nhà đầu tư cần nhận diện nghĩa vụ tài chính, giới hạn sử dụng đất và rủi ro pháp lý.
Nghị định 371/2026/NĐ-CP (Kỳ 3): Cho thuê lại lao động trước sức ép minh bạch và trách nhiệm pháp lý

Nghị định 371/2026/NĐ-CP (Kỳ 3): Cho thuê lại lao động trước sức ép minh bạch và trách nhiệm pháp lý

Nghị định 371/2026/NĐ-CP đặt ra yêu cầu quản lý đối với doanh nghiệp cho thuê lại lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức nước ngoài. Từ nghĩa vụ thông báo, báo cáo đến quản lý dữ liệu nhân sự, doanh nghiệp cần kiểm soát rủi ro pháp lý, bảo vệ quyền lợi người lao động.
Nghị định 373/2026/NĐ-CP (Kỳ 1): Chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp, cơ hội nào cho khu vực tư nhân?

Nghị định 373/2026/NĐ-CP (Kỳ 1): Chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp, cơ hội nào cho khu vực tư nhân?

Nghị định 373/2026/NĐ-CP mở ra cơ hội đầu tư khi chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp, nhưng không áp dụng đại trà. Điều kiện chuyển đổi, tỷ lệ vốn nhà nước và cam kết của nhà đầu tư chiến lược đặt ra yêu cầu thẩm định.
Thông tư 138/2026/TT-BTC (kỳ 2): Siết giao dịch trái phiếu, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 138/2026/TT-BTC (kỳ 2): Siết giao dịch trái phiếu, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 138/2026/TT-BTC siết kỷ luật giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, từ kiểm soát tư cách nhà đầu tư đến thanh toán trong ngày. Quy định giảm rủi ro giao dịch, nhưng không bảo đảm thanh khoản hay khả năng trả nợ của doanh nghiệp phát hành.
Nghị định 371/2026/NĐ-CP (Kỳ 2): Siết quản lý lao động Việt Nam, tổ chức nước ngoài cần lưu ý gì?

Nghị định 371/2026/NĐ-CP (Kỳ 2): Siết quản lý lao động Việt Nam, tổ chức nước ngoài cần lưu ý gì?

Nghị định 371/2026/NĐ-CP đặt ra yêu cầu mới về quản lý lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài. Từ thời hạn thông báo, hồ sơ nhân sự đến nghĩa vụ báo cáo, các bên phải chuẩn bị quy trình tuân thủ, kiểm soát rủi ro pháp lý.