![]() |
| Giá thép hôm nay 24/9/2026: Gián đoạn nguồn cung Brazil kiềm hãm đà giảm |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h00 ngày 24/9/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 13.840 - 15.150 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 14.650 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.950 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.210 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.040 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 14.550 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.940 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 14.550 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 13.840 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.250 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.210 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 15.050 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.140 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.720 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.950 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.840 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.840 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 8h00 (giờ Việt Nam) ngày 24/9, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.098 CNY/tấn. |
Thị trường thép và nguyên liệu thế giới ghi nhận trạng thái giằng co trong phiên 23/9. Kết phiên tại sàn Thượng Hải, giá thép thanh giao tháng 10/2026 giảm nhẹ 0,2% xuống 3.057 Nhân dân tệ/tấn. Cùng thời điểm, thép cuộn cán nóng giảm 0,18%, trong khi giá thép không gỉ giữ được nhịp phục hồi với mức tăng 0,65%.
Trên sàn Đại Liên, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 10 đi ngang ở mức 719 Nhân dân tệ/tấn. Ngược lại, hợp đồng quặng sắt giao tháng 1/2027 được giao dịch sôi động nhất nhích nhẹ 0,07% lên 712 Nhân dân tệ/tấn. Tại sàn Singapore, giá quặng sắt cùng kỳ hạn lùi 0,2%, chốt phiên ở ngưỡng 95,85 USD/tấn. Áp lực điều chỉnh cũng lan sang các nguyên liệu luyện kim khác khi than cốc và than luyện cốc đồng loạt giảm dưới 2%.
Sự chựng lại của đà giảm quặng sắt chủ yếu do hiện tượng El Nino gây mưa lớn bất thường tại Brazil, làm đe dọa các tuyến vận tải đường sắt và hoạt động bốc dỡ tại cảng. Yếu tố này, kết hợp với nhu cầu tích trữ hàng trước kỳ nghỉ Tuần lễ Vàng tại Trung Quốc, đã tạo lực nâng ngắn hạn giúp thị trường cân bằng trước lo ngại dư cung và biên lợi nhuận thu hẹp của các nhà máy.
Lợi nhuận toàn ngành tiếp tục bị bào mòn bởi chi phí đầu vào duy trì ở mức cao. Giá than luyện cốc nội địa Trung Quốc duy trì quanh ngưỡng 262 USD/tấn do sự thắt chặt kiểm tra an toàn mỏ tại Sơn Tây. Áp lực này khiến tỷ lệ vận hành lò cao của 247 doanh nghiệp thép Trung Quốc giảm nhẹ xuống 82,32% tính đến ngày 22/9, dù hiệu suất sử dụng công suất có bước nhích nhẹ lên 89,23%.
Hiệp hội Sắt Thép Trung Quốc (CISA) nhận định nhu cầu tiêu thụ thép nội địa sẽ giảm trong dài hạn, nhưng vẫn duy trì quy mô trên 800 triệu tấn/năm trong giai đoạn 2026 - 2030. Ngành thép quốc gia này đang chủ động chuyển dịch chiến lược sang nâng cao tính tự chủ nguyên liệu, kiểm soát quy mô và tăng cường tích tụ sản xuất.
Đến năm 2030, CISA hướng tới việc mở rộng thị phần của 10 tập đoàn thép hàng đầu lên 50%. Tỷ trọng sản xuất bằng công nghệ lò hồ quang điện dự kiến nâng lên 20%, đồng thời tăng tỷ lệ khai thác quặng sắt trong nước lên 26% và tỷ trọng tài sản ở nước ngoài đạt 13%.
Thị trường thép toàn cầu trong giai đoạn 2025 - 2027 sẽ chịu áp lực dư cung lớn khi công suất dự kiến tăng thêm 165 triệu tấn. Bên cạnh làn sóng bảo hộ thương mại gia tăng, việc Liên minh Châu Âu áp dụng Cơ chế CBAM từ năm 2028 ước tính sẽ làm tăng 7% chi phí xuất khẩu của thép Trung Quốc, tương đương mức phát sinh khoảng 1,42 tỷ Euro.