Thứ bảy 03/10/2026 18:30
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Doanh nghiệp cần biết: Các trường hợp người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động

22/06/2021 14:33
Từ góc độ Luật Bảo hiểm xã hội, “người lao động nước ngoài” là “công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp”...

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2021.

Lao động nước ngoài vào Việt Nam hiện đến từ hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới

Lao động nước ngoài vào Việt Nam hiện đến từ hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. (Ảnh: minh họa)

Người lao động nước ngoài làm việc cho doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức tại Việt Nam phải có giấy phép lao động, trừ các trường hợp sau đây: Người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc với thời hạn dưới 03 (ba) tháng; hoặc để xử lý các trường hợp khẩn cấp như: những sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được;

Người nước ngoài là thành viên Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập theo Luật Doanh nghiệp) các doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
Người nước ngoài là Trưởng Văn phòng đại diện, Trưởng Chi nhánh tại Việt Nam;

Luật sư nước ngoài đã được Bộ Tư pháp cấp giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.

Về hình thức lao động của công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, Khoản 1 Điều 2 Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định: lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam (sau đây gọi là người lao động nước ngoài) theo các hình thức sau đây: Thực hiện hợp đồng lao động; di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp; thực hiện các loại hợp đồng hoặc thỏa thuận về kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khoa học kỹ thuật, văn hóa, thể thao, giáo dục, giáo dục nghề nghiệp và y tế;

Nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng; chào bán dịch vụ; làm việc cho tổ chức phi chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam được phép hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam; tình nguyện viên; người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại; nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật; tham gia thực hiện các gói thầu, dự án tại Việt Nam; thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam được phép làm việc tại Việt Nam theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Theo đó, Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động nếu thuộc các trường hợp sau đây: Là Trưởng văn phòng đại diện, dự án hoặc chịu trách nhiệm chính về hoạt động của tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam; Vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ; Vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để xử lý sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được;

Là luật sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của Luật Luật sư; Trường hợp theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam;

Là chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có giá trị góp vốn từ 3 tỷ đồng trở lên; Là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần có giá trị góp vốn từ 3 tỷ đồng trở lên;

Vào Việt Nam làm việc tại vị trí nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và không quá 03 lần trong 01 năm; Người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại;

Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ trong biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới, bao gồm: kinh doanh, thông tin, xây dựng, phân phối, giáo dục, môi trường, tài chính, y tế, du lịch, văn hóa giải trí và vận tải;

Vào Việt Nam để cung cấp dịch vụ tư vấn về chuyên môn và kỹ thuật hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng, thẩm định, theo dõi đánh giá, quản lý và thực hiện chương trình, dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) theo quy định hay thỏa thuận trong các điều ước quốc tế về ODA đã ký kết giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước ngoài;

Được Bộ Ngoại giao cấp giấy phép hoạt động thông tin, báo chí tại Việt Nam theo quy định của pháp luật; Vào Việt Nam thực hiện thỏa thuận quốc tế mà cơ quan, tổ chức ở Trung ương, cấp tỉnh ký kết theo quy định của pháp luật;

Được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cử sang Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu tại trường quốc tế thuộc quản lý của cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc Liên hợp quốc; các cơ sở, tổ chức được thành lập theo các hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, tham gia; Tình nguyện viên;

Học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường, cơ sở đào tạo ở nước ngoài có thỏa thuận thực tập trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam; học viên thực tập, tập sự trên tàu biển Việt Nam;

Thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam; Có hộ chiếu công vụ vào làm việc cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

Được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận người lao động nước ngoài vào Việt Nam để giảng dạy, nghiên cứu.

Lưu ý, ngoài các trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định, người lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam phải được cấp giấy phép lao động.

TL

Tin bài khác
Doanh nghiệp khảo sát, xây dựng trên tuyến hàng hải được chấp thuận trong 10 ngày

Doanh nghiệp khảo sát, xây dựng trên tuyến hàng hải được chấp thuận trong 10 ngày

Bộ Xây dựng quy định thời hạn chậm nhất 10 ngày làm việc để xử lý hồ sơ chấp thuận hoạt động khảo sát, thăm dò, xây dựng công trình trên tuyến hàng hải, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Quy định mới giúp doanh nghiệp chủ động hơn về tiến độ thủ tục.
Việt Nam đặt mục tiêu 8-10 triệu hợp đồng giao dịch hàng hóa phái sinh mỗi năm vào 2030

Việt Nam đặt mục tiêu 8-10 triệu hợp đồng giao dịch hàng hóa phái sinh mỗi năm vào 2030

Bộ Công Thương đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển khoảng 10 mặt hàng nội địa được giao dịch qua Sở Giao dịch hàng hóa, với khối lượng khoảng 8-10 triệu hợp đồng mỗi năm; thu hút 300-500 doanh nghiệp tham gia thị trường.
Dự thảo mới: Nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn, quản lý và vận hành chợ

Dự thảo mới: Nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn, quản lý và vận hành chợ

Bộ Công Thương đề xuất cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn, quản lý và vận hành hạ tầng chợ thông qua liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam, với tỷ lệ góp vốn tối đa 49% vốn điều lệ.
Từ đơn vị sự nghiệp công lập sang doanh nghiệp: Những tiêu chí mới cần lưu ý

Từ đơn vị sự nghiệp công lập sang doanh nghiệp: Những tiêu chí mới cần lưu ý

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 373/2026/NĐ-CP ngày 30/9/2026, quy định việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp. Quy định mới xác lập rõ đối tượng, nguyên tắc, tiêu chí và hình thức chuyển đổi, trong đó đặt điều kiện quan trọng về khả năng tự bảo đảm chi thường xuyên của đơn vị trong 2 năm gần nhất.
Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Giấy phép không phải là “tài sản vĩnh viễn” – rủi ro thu hồi bắt đầu từ một báo cáo bỏ quên

Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Giấy phép không phải là “tài sản vĩnh viễn” – rủi ro thu hồi bắt đầu từ một báo cáo bỏ quên

Nghị định 342/2026/NĐ-CP đặt kỷ luật tuân thủ vào vị trí trung tâm khi gắn báo cáo định kỳ và việc duy trì điều kiện kinh doanh với nguy cơ thu hồi giấy phép. Với doanh nghiệp FDI, báo cáo bị bỏ quên có thể thành rủi ro pháp lý.
Thông tư 54/2026/TT-BCT: Giấy phép còn hạn nhưng mỏ vẫn phải dừng – “đường băng pháp lý” của doanh nghiệp nằm ở trữ lượng

Thông tư 54/2026/TT-BCT: Giấy phép còn hạn nhưng mỏ vẫn phải dừng – “đường băng pháp lý” của doanh nghiệp nằm ở trữ lượng

Thông tư 54/2026/TT-BCT đặt ra ranh giới pháp lý rõ ràng: giấy phép còn thời hạn không đồng nghĩa doanh nghiệp được tiếp tục khai thác khi đã hết trữ lượng được phép. Điều này buộc doanh nghiệp phải quản trị trữ lượng, hồ sơ điều chỉnh và dòng tiền.
Nghị định 357/2026/NĐ-CP: Khi tiền thoái vốn được đặt lại trong”đường ống” ngân sách

Nghị định 357/2026/NĐ-CP: Khi tiền thoái vốn được đặt lại trong”đường ống” ngân sách

Nghị định 357/2026/NĐ-CP đặt nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước vào kỷ luật ngân sách, buộc doanh nghiệp tách bạch tiền thương vụ với tiền phải nộp. Dòng vốn sau thoái vốn có thể được tái phân bổ cho doanh nghiệp dẫn dắt, hạ tầng trọng điểm.
Đề xuất một đầu mối quản lý an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương

Đề xuất một đầu mối quản lý an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đề xuất Bộ Y tế là đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ở Trung ương, UBND các cấp chịu trách nhiệm tại địa phương, đồng thời chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên mức độ rủi ro.
Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Mở thêm điểm bán – “bài kiểm tra thị trường” không chỉ nhìn vào diện tích

Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Mở thêm điểm bán – “bài kiểm tra thị trường” không chỉ nhìn vào diện tích

Nghị định 342/2026/NĐ-CP đặt mở thêm điểm bán của doanh nghiệp có vốn nước ngoài dưới lăng kính kiểm tra nhu cầu kinh tế. Diện tích không phải tiêu chí duy nhất; cạnh tranh, chợ truyền thống, nhu cầu thị trường và an ninh ảnh hưởng quyết định cấp phép.
Thông tư 54/2026/TT-BCT: Mỗi tấn khoáng sản phải có “dấu vết” – khi quản trị mỏ trở thành quản trị dữ liệu

Thông tư 54/2026/TT-BCT: Mỗi tấn khoáng sản phải có “dấu vết” – khi quản trị mỏ trở thành quản trị dữ liệu

Thông tư 54/2026/TT-BCT đưa quản trị khai thác khoáng sản sang mô hình kiểm soát bằng dữ liệu, nơi sản lượng, sổ sách, thiết bị đo đếm và báo cáo phải thống nhất. Với doanh nghiệp, yêu cầu này tăng trách nhiệm tuân thủ, đồng thời làm rõ rủi ro.
Hàng hóa rủi ro cao từ 1/1/2027 sẽ phải để lại “dấu chân” số

Hàng hóa rủi ro cao từ 1/1/2027 sẽ phải để lại “dấu chân” số

Một lô hàng sẽ không chỉ được nhận diện bằng nhãn hay mã truy vết hiện có. Dữ liệu về sản xuất, lưu thông, hóa đơn, thông quan và các giấy tờ liên quan sẽ từng bước được kết nối để có thể kiểm tra lại hành trình của hàng hóa.
Thông tư 54/2026/TT-BCT: Quản trị tài nguyên bằng dữ liệu và những rủi do doanh nghiệp không thể xem nhẹ

Thông tư 54/2026/TT-BCT: Quản trị tài nguyên bằng dữ liệu và những rủi do doanh nghiệp không thể xem nhẹ

Thông tư 54/2026/TT-BCT định hình cách doanh nghiệp tiếp cận khoáng sản nhóm IV khi năng lực tài chính, chất lượng dữ liệu khảo sát và thời điểm hoàn thiện hồ sơ trở thành yếu tố then chốt. Với doanh nghiệp nhỏ, cuộc đua không chỉ nằm ở tài nguyên.
Nghị định 342/2026/NĐ-CP: “Luật chơi” mới cho bán lẻ, phân phối có vốn nước ngoài

Nghị định 342/2026/NĐ-CP: “Luật chơi” mới cho bán lẻ, phân phối có vốn nước ngoài

Nghị định 342/2026/NĐ-CP mở ra khung pháp lý mới cho hoạt động bán lẻ có vốn nước ngoài, nơi giấy phép, nguồn vốn và cấu trúc kinh doanh gắn chặt hơn. Với doanh nghiệp Việt gọi vốn ngoại, thẩm định pháp lý trước M&A trở thành yêu cầu chiến lược.
Luật Quảng cáo tiếp tục lên bàn nghị sự tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách

Luật Quảng cáo tiếp tục lên bàn nghị sự tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo sẽ được các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cho ý kiến tại Hội nghị lần thứ nhất, nhiệm kỳ khóa XVI. Việc tiếp tục rà soát dự án luật được đặt trong yêu cầu chung về nâng cao chất lượng chính sách, bảo đảm tính thống nhất và khả năng thực thi của pháp luật.
TP. Hồ Chí Minh rút ngắn gần 30% thời gian giải quyết thủ tục đấu nối hạ tầng đường bộ

TP. Hồ Chí Minh rút ngắn gần 30% thời gian giải quyết thủ tục đấu nối hạ tầng đường bộ

UBND TP. Hồ Chí Minh vừa phê duyệt phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Sở Xây dựng, trong đó đáng chú ý là việc cắt giảm gần 30% thời gian giải quyết thủ tục chấp thuận thiết kế nút giao đấu nối vào đường địa phương đang khai thác. Động thái này được kỳ vọng góp phần cải thiện môi trường đầu tư, giảm chi phí tuân thủ và đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án hạ tầng trên địa bàn thành phố.