Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Bắc Ninh vừa ban hành Quyết định số 1248/QĐ-UBND về Kế hoạch thực hiện Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075. Kế hoạch xác định các nhiệm vụ ưu tiên, lộ trình triển khai và phương án huy động nguồn lực, tạo cơ sở tổ chức lại không gian đô thị, phát triển hạ tầng và khai thác tiềm năng kinh tế của địa phương.
Theo kế hoạch, Bắc Ninh tập trung hoàn thiện hệ thống khung quy hoạch, gồm quy hoạch không gian ngầm, 4 quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật, 21 quy hoạch phân khu đô thị, 21 quy hoạch chung xã cùng các quy hoạch chức năng, chương trình và đề án liên quan.
Các quy hoạch phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tích hợp dữ liệu hệ thống thông tin địa lý (GIS), phục vụ quản lý và phát triển đô thị thông minh. Trong đó, 21 quy hoạch phân khu đô thị tỷ lệ 1/2.000 và 21 quy hoạch chung xã dự kiến hoàn thành trong quý II/2027; quy hoạch không gian ngầm và các quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật dự kiến hoàn thành trong quý III/2027.
Những mốc thời gian này cho thấy khối lượng công việc phía trước không nhỏ. Quy hoạch chỉ thực sự phát huy giá trị khi các chỉ tiêu sử dụng đất, định hướng giao thông, hạ tầng kỹ thuật và không gian phát triển kinh tế được cụ thể hóa thành cơ sở pháp lý rõ ràng cho quản lý xây dựng và triển khai dự án.
Đối với doanh nghiệp, sự đồng bộ của quy hoạch có ý nghĩa trực tiếp. Một khu vực được xác định rõ chức năng, có kết nối giao thông thuận lợi và hạ tầng kỹ thuật phù hợp sẽ giúp nhà đầu tư chủ động hơn trong việc lựa chọn địa điểm, xây dựng kế hoạch sản xuất và tính toán chi phí dài hạn. Ngược lại, nếu quy hoạch chậm cụ thể hóa hoặc thiếu sự kết nối giữa các ngành, các dự án có thể gặp khó khăn trong quá trình chuẩn bị và triển khai.
Bởi vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thành đủ số lượng đồ án, mà còn phải bảo đảm khả năng kết nối giữa quy hoạch với danh mục dự án, kế hoạch đầu tư và nhu cầu phát triển thực tế của nền kinh tế.
![]() |
| Bắc Ninh hướng tới đô thị hơn 10 triệu dân: Thước đo nằm ở năng lực thực thi quy hoạch. (Ảnh minh họa) |
Trong danh mục định hướng ưu tiên, Bắc Ninh chú trọng phát triển đô thị thông minh, đô thị gắn với giao thông công cộng, công nghiệp bán dẫn, vi mạch, trí tuệ nhân tạo (AI), đồng thời nghiên cứu các đề án về khu thương mại tự do phi thuế quan, khu kinh tế đặc biệt gắn với Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và khu kinh tế chuyên biệt gắn với ga đường sắt Kép.
Hạ tầng giao thông đối ngoại, đường sắt, logistics, hệ thống cảng và công trình xử lý môi trường cũng được xác định là những cấu phần quan trọng của hệ thống hạ tầng khung.
Đây là những lĩnh vực có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Công nghiệp công nghệ cao cần mặt bằng sản xuất phù hợp, nguồn nhân lực có kỹ năng, hệ thống cung ứng ổn định và khả năng vận chuyển hàng hóa hiệu quả. Logistics phát triển không chỉ phục vụ lưu thông hàng hóa mà còn tác động đến chi phí vận hành, khả năng kết nối chuỗi cung ứng và sức hấp dẫn của địa phương đối với các nhà đầu tư.
Vì vậy, hiệu quả của quy hoạch không thể chỉ đo bằng số lượng tuyến đường, khu chức năng hay dự án được đưa vào danh mục. Điều cần quan tâm là mức độ kết nối giữa các khu công nghiệp với trung tâm logistics, mạng lưới giao thông đối ngoại và các đầu mối vận tải; khả năng đáp ứng nhu cầu đi lại của người lao động; cũng như mức độ sẵn sàng của hạ tầng kỹ thuật khi dự án đi vào hoạt động.
Với các định hướng liên quan đến bán dẫn, vi mạch và AI, Bắc Ninh còn phải tính đến yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực, hạ tầng số, năng lượng, môi trường và hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp. Quy hoạch tạo ra không gian phát triển, nhưng năng lực thu hút các dự án có giá trị gia tăng cao còn phụ thuộc vào khả năng đáp ứng những điều kiện này.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, sự phát triển của các chuỗi sản xuất và logistics cũng có thể mở ra cơ hội tham gia cung ứng hàng hóa, dịch vụ, vận tải, bảo trì và các hoạt động hỗ trợ. Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành giá trị kinh tế khi doanh nghiệp địa phương có đủ thông tin, năng lực và điều kiện tiếp cận thị trường.
Kế hoạch xác định lộ trình phát triển theo ba giai đoạn. Giai đoạn 2026–2030, Bắc Ninh phấn đấu hoàn thiện hồ sơ công nhận đạt tiêu chí đô thị loại I, hướng tới trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030; phủ kín 100% quy hoạch phân khu và quy hoạch chung xã, đồng thời đưa giai đoạn 1 Cảng hàng không quốc tế Gia Bình vào khai thác. Quy mô dân số dự kiến khoảng 4,95 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa từ 65% trở lên.
Giai đoạn 2030–2040, địa phương định hướng hoàn thiện cấu trúc đô thị đa cực, đa trung tâm; phát triển mạng lưới đường sắt, tàu điện đô thị và các chuỗi đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD), đồng thời hình thành những cực logistics lớn tại Quế Võ, Gia Bình và Kép. Quy mô dân số dự kiến đạt 7,5–7,7 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa từ 75% trở lên.
Đến giai đoạn 2040–2050, mục tiêu được đặt ra là nâng cao chất lượng sống đô thị, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và hướng tới phát thải ròng bằng 0. Quy mô dân số dự kiến đạt 8,6–8,9 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa trên 80%.
Tầm nhìn đến năm 2075, Bắc Ninh hướng tới trở thành đại đô thị văn minh, hiện đại, giàu bản sắc văn hóa Kinh Bắc, có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và dung nạp trên 10 triệu dân, gắn với hệ sinh thái kinh tế tri thức, bán dẫn, hàng không và dịch vụ toàn cầu.
Các mục tiêu này cho thấy quy mô phát triển được đặt ra rất lớn. Cùng với cơ hội mở rộng không gian kinh tế, địa phương sẽ phải giải quyết đồng thời nhiều yêu cầu về giao thông, nhà ở, trường học, y tế, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các dịch vụ công thiết yếu.
Một đô thị đông dân không đồng nghĩa với một đô thị đáng sống nếu thời gian đi lại kéo dài, hạ tầng quá tải hoặc khoảng cách tiếp cận dịch vụ giữa các khu vực ngày càng lớn. Do đó, phát triển đô thị cần được nhìn nhận trên cả hai phương diện: năng lực tạo ra tăng trưởng kinh tế và khả năng bảo đảm chất lượng sống cho cộng đồng dân cư.
Để bảo đảm tiến độ, kế hoạch phân công trách nhiệm cho các sở, ban, ngành, đơn vị và UBND các xã, phường; đồng thời xác định nguồn lực thực hiện từ ngân sách nhà nước, vốn ngoài ngân sách và các hình thức hợp tác công tư. Sở Xây dựng là cơ quan thường trực, có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và tổng hợp kết quả triển khai.
Việc phân công nhiệm vụ là điều kiện cần, nhưng hiệu quả thực hiện còn phụ thuộc vào khả năng phối hợp giữa các cơ quan, tính khả thi của danh mục dự án và sự chủ động trong huy động nguồn lực. Với các dự án quy mô lớn, việc xác định thứ tự ưu tiên, chuẩn bị mặt bằng, cân đối vốn và kiểm soát tác động môi trường cần được tính toán đồng bộ.
Một yêu cầu đáng chú ý là phải gắn tiến độ hoàn thiện quy hoạch với kết quả triển khai đầu tư. Các chỉ tiêu theo dõi không nên chỉ dừng ở số lượng đồ án được phê duyệt, mà cần phản ánh cả tiến độ chuẩn bị dự án, mức độ hoàn thiện hạ tầng thiết yếu, khả năng thu hút đầu tư, việc làm được tạo ra và chất lượng dịch vụ đô thị.
Đồng thời, việc tích hợp dữ liệu GIS cần hướng tới khả năng sử dụng thực tế trong quản lý đất đai, cấp phép xây dựng, theo dõi hạ tầng và công khai thông tin quy hoạch phù hợp với quy định. Khi dữ liệu được cập nhật và khai thác hiệu quả, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân sẽ có thêm cơ sở để đưa ra quyết định, giảm rủi ro do thiếu thông tin và nâng cao tính minh bạch trong phát triển đô thị.
Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 mở ra định hướng phát triển dài hạn với nhiều cơ hội cho công nghiệp công nghệ cao, logistics, dịch vụ và kinh tế số. Nhưng chặng đường từ mục tiêu đến hiện thực đòi hỏi sự kiên trì trong tổ chức thực hiện, phân bổ nguồn lực hợp lý và giám sát bằng những kết quả cụ thể.
Thước đo cuối cùng không chỉ là Bắc Ninh phát triển đến quy mô nào, mà còn là doanh nghiệp có thêm điều kiện phát triển ra sao, người dân được hưởng lợi gì từ hạ tầng mới và đô thị có duy trì được bản sắc Kinh Bắc trong quá trình hiện đại hóa hay không.
