Xét xử vụ án liên quan đến nguyên Bí thư Thị ủy Bến Cát: Nhiều bất thường tiếp tục phát lộ

Pháp luật doanh nghiệp | 14:34:00 23/05/2020

DNHN - Tạp chí Doanh nghiệp & Hội nhập đã đăng tải loạt bài phản ánh về vụ án vi phạm về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí có dấu hiệu oan sai, chưa đủ căn cứ buộc tội đối với bị cáo Nguyễn Hồng Khanh-nguyên Bí thư Thị ủy Bến Cát. Ngày 20 và 21/05/2020, vụ án này được Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm lần 2, nhiều bất thường trong hoạt động tố tụng đã tiếp tục phát lộ.

 Bị cáo Nguyễn Hồng Khanh được dẫn giải đến Tòa

Tóm tắt nội dung vụ án

Bà Hồ Thị Hiệp vay Ngân hàng BIDV- chi nhánh Tây Sài Gòn theo 5 Hợp đồng tín dụng cho Công ty An Tây với tổng số tiền là trên 54 tỷ đồng và 1 Hợp đồng tín dụng cho Công ty Gỗ Mỹ Hiệp với số tiền là 18 tỷ đồng. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng 234.308,4 m2 đất và máy móc thiết bị. Ông Nguyễn Hồng Khanh (Bị can của vụ án- PV) thông qua môi giới, biết được bà Hiệp cần chuyển nhượng QSD đất đang thế chấp này nên đã thống nhất với bà Hiệp và hai bên đã thực hiện 3 giao dịch thành công chuyển nhượng QSD đất này. Sau khi bà Hiệp chết, con trai bà Hiệp là Nguyễn Hiệp Hòa đã tố cáo ông Khanh lợi dụng chức vụ quyền hạn để o ép mua rẻ đất của bà Hiệp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với 7 người.Trên cơ sở kết quả điều tra của Cơ quan điều tra,Viện Kiểm sát Nhân dân Bình Dương ra cáo trạng quy kết các ông Nguyễn Huy Hùng, Nguyễn Quang Lộc là 2 cán bộ Ngân hàng BIDV và Nguyễn Hồng Khanh- nguyên Bí thư Thị ủy Bến Cát đã làm thất thoát tài sản của nhà nước trên 26 tỷ đồng qua việc chuyển nhượng QSD đất của bà Hiệp và ông Nguyễn Hồng Khanh.

Vụ án đã được đưa ra xét xử sơ thẩm lần thứ nhất từ ngày 9 đến 18/12/2019, nhận thấy còn nhiều tình tiết quan trọng làm căn cứ buộc tội của vụ án chưa được làm rõ, nên Tòa án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung 5 vấn đề, gồm: Làm rõ các vấn đề liên quan làm cơ sở xác để định giá tài sản; xác định chữ ký bà Hảo trong biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty An Tây là chữ ký thật hay giả, xác định diện tích đất ông Khanh đã nhận chuyển nhượng từ bà Hiệp, xác định phần vốn của nhà nước trong BIDV, xác định việc gia đình ông Khanh đã đầu tư trên mảnh đất nhận chuyển nhượng từ bà Hiệp.

Vụ án được Cơ quan CSĐT khởi tố theo 4 tội danh, nhưng cáo trạng lần này thể hiện chỉ có một tội danh được đưa truy tố, xét xử  là tội vi phạm về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí theo Điểu 219 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.

Dư luận đang ồn ào cho rằng vụ án có nhiều dấu hiệu oan sai, như: ai là bị hại? BIDV không phải ngân hàng nhà nước thì sao lại coi là tài sản nhà nước bị thất thoát? Tài sản trong vụ án đề cập là QSD đất của bà Hiệp và Công ty An Tây được thế chấp nên không phải tài sản nhà nước; ông Hùng và ông Lộc không thừa nhận được nhà nước giao quản lý tài sản nhà nước thì làm sao gây thất thoát? Trong 3 lần giao dịch giữa ông Khanh và bà Hiệp thì chỉ có lần thứ nhất xẩy ra năm 2012 là có 2 hợp đồng có giá chuyển nhượng khác nhau, 2 lần sau việc chuyển nhượng không có gì bất thường nhưng Viện Kiểm sát lại đề nghị truy tố theo Điều 219 Bộ luật Hình sự 2015 là Bộ luật ra đời sau 3 năm khi vụ việc xảy ra? Cáo trạng của Viện KSND tỉnh Bình Dương còn nhầm lẫn thể nhân với pháp nhân khi cho rằng bà Hiệp vay tiền cho Công ty An Tây và Công ty Gỗ Mỹ Hiệp, thực chất bà Hiệp ký vay với tư cách là người đại diện theo pháp luật của 2 công ty này. Cáo trạng cũng nêu ông Khanh đã ăn năn hối cải, nhưng thực tế ông Khanh luôn kêu oan.

Quang cảnh phiên tòa xét xử

Trên cơ sở kết quả điều tra bổ sung, Viện KSND tỉnh Bình Dương ra bản Cáo trạng số 12/CT-VKSBD-P1 ngày 20/3/2020. Đáng chú ý, cáo trạng lần này có nhiều điểm mới và khác cơ bản so với cáo trạng số 20 trước đây, như: Cơ quan điều tra đã tách vụ án (phần liên quan đến 4 bị can khác) để điều tra làm rõ sau; các bị can bị truy tố theo cáo trạng lần này gồm Nguyễn Huy Hùng, Nguyễn Quang Lộc về tội vi phạm về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí và  Nguyễn Hồng Khanh cũng bị truy tố theo tội danh này với vai trò đồng phạm giúp sức. Qua 3 lần xử lý tài sản thế chấp, Ngân hàng BIDV- chi nhánh Tây Sài Gòn thu hồi gần 7,8 tỷ đồng (làm tròn số-PV), ông Khanh thanh toán bằng tiền mặt cho bà Hiệp gần 2,9 tỷ đồng (làm tròn số-PV), gây thất thoát số tiền 26.063.955.422 đồng (cáo trạng này đã lược bỏ cụm từ cho nhà nước sau cụm từ gây thất thoát như cáo trạng lần trước-PV).

Ngày 20 và 21/5/2020 diễn ra phiên tòa xét xử sơ thẩm lần thứ 2, diễn biến phiên tòa lần này không những vẫn chưa làm rõ các nội dung còn tồn tại từ phiên tòa lần thứ nhất mà còn phát lộ nhiều bất ngờ mới.

Định giá không khách quan và “thổi” hậu quả vụ án

Việc định giá tài sản trong quá trình điều tra vụ án là một thủ tục bắt buộc, đòi hỏi khách quan vô tư và chính xác để xem xét hậu quả thiệt hại của vụ án nhằm giúp giải quyết đúng đắn vụ án. Vì vậy, pháp luật quy định về Tố tụng hình sự và các văn bản pháp quy có liên quan đến vấn đề này quy định rất chặt chẽ nhằm tránh oan sai. Trong vụ án này, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự (gọi tắt là HĐĐG) để xác định trị giá QSD đất mà bà Hiệp đã chuyển nhượng cho ông Khanh. Theo Luật sư Nguyễn Hoài Nghĩa, Hội đồng này gồm cả thành phần là những người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án như UBND tỉnh Bình Dương, UBND thị xã Bến Cát, phòng Tài nguyên Môi trường Bến Cát chẳng khác nào “vừa đá bóng vừa thổi còi” nên kết quả định giá là không khách quan và vi phạm nghiêm trọng Điều 13 Nghị định 30/2018/NĐ-CP ngày 07/03/2018  của Chính phủ về quy định chi tiết về thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự.

Phiên tòa thu hút đông đảo người tham dự

Một tình huống bất ngờ xẩy ra trong phiên tòa, các Luật sư đã chứng minh kết quả định giá của HĐĐG lại dựa trên việc khảo sát “khống” về giá và đưa ra giá “trên trời”, cao gấp khoảng 5 lần so với giá của các giao dịch đã thành công và cao hơn nhiều lần giá đất làm căn cứ bồi thường hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng ngay trong khu vực. Cụ thể, Luật sư Trần Minh Hải đã công bố toàn văn bản tường trình của bà Đinh Thị Thùy Trang, chủ thửa đất 1010 tờ bản đồ số 42 xã An Tây, Thị xã Bến Cát là người có tên trong phiếu khảo sát ngày 29/8/2018 do ông Trần Quang Đạo là đại diện Công ty Thẩm định giá Thế Hệ Mới lập phiếu. Theo bản tường trình, bà Trang khẳng định chưa gặp ông Trần Quang Đạo và giá bán đất của cả 2 lần của bà đều thấp hơn 5 lần so với giá do ông Trần Quang Đạo cung cấp cho Hội đồng định giá. Khi bị chất vấn vấn đề này, ông Trần Quang Đạo đã không trả lời rõ được lý do sai sót này. Vị đại diện cho Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự có mặt tại phiên tòa cũng không trả lời rõ được các vấn đề do các Luật sư của bị cáo nêu ra như: Vì sao chỉ căn cứ vào phiếu khảo sát “khống” để làm căn cứ định giá, vì sao không lấy giá đất khi giải phóng mặt bằng có dấu đỏ của chính quyền đối với các dự án trong khu vực tại thời điểm tương ứng? Nếu những người dân liên quan các dự án này cứ lấy mức giá do HĐĐG đã xác định trong vụ án này để đòi thêm bồi thường thì sẽ như thế nào? Vì sao không lấy giá đất đã giao dịch thành công có xác nhận của công chứng để làm căn cứ xác định giá đất thực tế vv..

Khoản 4 Điều 101 Bộ luật TTHS quy định: Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản vi phạm quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật về định giá thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.

Theo quy định tại Điều 222 Bộ luật TTHS, kết quả định giá phải được cơ quan tiến hành tố tụng giao cho bị can, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sau 7 ngày nhận được từ HĐĐG. Nhưng trong vụ này, mãi hơn 1 năm sau các bị cáo mới được nhận kết quả định giá. Trả lời về sai sót nghiêm trọng này, vị đại diện Viện KSND tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố bày tỏ quan điểm tuy có giao chậm so với quy định của Luật nhưng không làm thay đổi bản chất vụ án. Rất tiếc về nhận thức thức của vị đại diện Viện KSND tỉnh Bình Dương, bởi việc giao chậm kết quả định giá đã xâm phạm nghiêm trọng quyền của bị can, bị cáo, tước đi của họ những cơ hội khiếu nại, yêu cầu định giá lại của bị can bị cáo.

Nhà nước có bị thất thoát tài sản?

Đây cũng là vấn đề cót lõi để xác định có đủ hay không đủ cấu thành tội phạm vi phạm về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí.Tại phiên tòa sơ thẩm lần 1, BIDV thừa nhận QSD đất là tài sản do Công ty An Tây và Gỗ Mỹ Hiệp thế chấp, không phải tài sản của BIDV nên phiên tòa không chứng minh được tài sản của nhà nước bị thất thoát trong vụ án này là tài sản nào. Trong phiên tòa lần này, các Luật sư của bị cáo cũng đã dẫn chiếu các quy định và các số liệu tài chính của Ngân hàng BIDV chứng minh khoản dư nợ của bà Hiệp tại BIDV đã được trích lập rủi ro và đưa theo dõi ngoài bảng, số tiền để trích lập rủi ro là từ nguồn tiền lãi trong hoạt động tín dụng, không phải từ nguồn vốn, nên không còn vốn nhà nước trong phần dư nợ của bà Hiệp trước khi bán QSD đất cho ông Khanh.Vì vậy, nhà nước không hề bị thất thoát trong vụ việc này. Đối đáp về vấn đề này, đại diện Viện KSND tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm khi cho rằng nhà nước đã bị thất thoát 26.063.955.422 đồng.

Tại phiên tòa lần này, cả 3 bị cáo Hùng, Lộc và Khanh vẫn đồng loạt kêu oan. Bị cáo Hùng và Lộc đều khai không được nhà nước giao quản lý tài sản của nhà nước nên không thể làm thất thoát tài sản nhà nước, Ngân hàng BIDV là Ngân hàng thương mại cổ phần không phải ngân hàng nhà nước, các bị cáo chỉ lao động theo Hợp đồng lao động. Trước giờ nghị án, bị cáo Lộc thừa nhận hành vi làm thất thoát tài sản và xin được giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ. Quá trình xét xử, bị cáo Hùng và Lộc đều cho rằng việc tách vụ án ra để điều tra riêng và xét xử sau là gây bất lợi cho các bị cáo. Các Luật sư của các bị cáo đều bầy tỏ quan điểm cùng một chuỗi vụ việc, một chuỗi hành vi nhưng việc chia cắt ra thành nhiều vụ án để truy tố, xét xử riêng làm mất đi cơ hội xem xét tổng thể, toàn diện vụ án, làm tăng mức hình phạt do có nhiều bản án (Cộng án) là không đúng với nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Hồng Khanh (nguyên Bí thư Thị ủy TX Bến Cát, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Bình Dương- PV) trình bầy về bản chất của việc bị bắt giữ, truy tố, xét xử  đối với mình là do bị trù dập. Chủ tọa phiên tòa đã không chấp nhận, yêu cầu bị cáo và Luật sư không đề cập vấn đề này vì không có căn cứ cho rằng đây là tình tiết trong vụ án, việc tố cáo bị trù dập đã được các cơ quan khác xem xét. Tình huống này được lặp đi lặp lại không dưới 3 lần trong quá trình xét xử của ngày 20 và 21/5/2020.Theo các Luật sư Trần Minh Hải, Lê Thị Minh Nhân, Nguyễn Văn Quynh và Nguyễn Hoài Nghĩa vấn đề này có dấu hiệu liên quan trực tiếp đến việc ông Khanh bị bắt giam giữ oan sai trong vụ án này nên cần phải được làm rõ.

Chiều ngày 21/5, cả 7 Luật sư bào chữa cho các bị can của vụ án ký đơn kiến nghị tập thể gửi lên HĐXX yêu cầu 2 vấn đề, trong đó có vấn đề bị cáo Khanh tố cáo bị trù dập. Luật sư Lê Thị Minh Nhân còn đặt vấn đề, nếu bị cáo Khanh không phải nguyên Bí thư Thị ủy Bến Cát, nguyên Tỉnh ủy viên thì liệu có bị bắt, giam, bị đưa truy tố như thế này không?Vì thế cần phải làm rõ có trù dập không?

Áp dụng sai lầm pháp luật?

Theo các cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án này, việc công ty vay, thế chấp, giải chấp, trả nợ xảy ra tại cơ quan bị hại là Ngân hàng BIDV- chi nhánh Tây Sài Gòn, trụ sở của cơ quan này tại Tp Hồ Chí Minh, như vậy vụ án (nếu có) xảy ra tại Ngân hàng BIDV- chi nhánh Tây sài Gòn thì vụ án phải được các cơ quan tiến hành tố tụng của TP Hồ Chí Minh giải quyết mới đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình Sự. Điều này không được đề cập trong cáo trạng và trong phiên tòa?

Cáo trạng của Viện KSND tỉnh Bình Dương quy kết tội phạm xảy ra theo 3 giao dịch của bà Hiệp với ông Khanh. Giao dịch lần thứ nhất xảy ra năm 2012, thời điểm này Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa ra đời. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này là có dấu hiệu vi phạm Khoản 1 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian: “Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện”.

Tội phạm vi phạm về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí được quy định tại Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017. Tuy nhiên, giao dịch lần thứ 2 của bà Hiệp và ông Khanh xảy ra ngày 20/3/2015, lần thứ 3 xảy ra ngày 15/5/2015, cả 2 lần giao dịch này đều xảy ra trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực. Theo Điểm a Khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội quy định Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 có hiệu lực từ ngày 1/1/2018. Như vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo trong trường hợp này là có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội.

Cả 7 Luật sư bào chữa cho các bị cáo đều đưa ra quan điểm các bị cáo đã bị oan sai. Có 5 trong 7 luật sư bào chữa cho các bị cáo có quan điểm đề nghị HĐXX áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội để trả tự do ngay tại tòa cho các bị cáo. Có 2 Luật sư đề nghị thêm cần trả lại hồ sơ, nhập lại vụ án để xem xét tổng thể, khách quan, tránh bất lợi cho các bị cáo.

Đây là vụ án vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí, nhưng không chứng minh được tài sản của nhà nước trong vụ án này là tài sản nào? Cơ quan nào là bị hại? căn cứ để xác định thiệt hại bị chỉ ra là giả mạo. Bị cáo Khanh không bàn bạc, không quan hệ với bị cáo Hùng và bị cáo Lộc nhưng vẫn  bị quy kết là đồng phạm với bị cáo Hùng và bị cáo Lộc. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về tội chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và khi Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 chưa có hiệu lực... là những vấn đề chưa được giải quyết trong vụ án này. Kết thúc phần tranh tụng, chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX tuyên bố do tính chất phức tạp của vụ án, HĐXX quyết định kéo dài thời gian nghị án đến ngày 28/05/2020 sẽ tiếp tục phiên tòa. Dư luận đang dành sự quan tâm đặc biệt tới vụ án này.

Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

Điểm a Khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội quy định việc áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hiệu lực của Bộ luật Hình sự năm 2015:Tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018.

Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về suy đoán vô tội:Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

Theo Luật sư Nguyễn Hoài Nghĩa, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm lần thứ nhất diễn ra từ ngày 9 đến 18/12/2019, đại diện của Ngân hàng BIDV không thừa nhận BIDV là cơ quan bị hại, BIDV không trình báo và không đề nghị gì với các cơ quan tiến hành tố tụng từ năm 2012 đến khi vụ án được đưa ra xét xử; tài sản trong vụ án này là QSD đất của bà Hiệp thế chấp tại Ngân hàng BIDV-chi nhánh Tây Sài Gòn, không phải tài sản của BIDV. Tại phiên tòa sơ thẩm lần này, Luật sư hỏi ai là bị hại của vụ án, BIDV có phải là bị hại? Người đại diện của Ngân hàng BIDV trả lời việc xác định ai là bị hại là do cơ quan tố tụng, bị thiệt hại bao nhiêu cũng do cơ quan tố tụng xác định, BIDV không có ý kiến gì. Người đại diện BIDV từ chối trả lời khi các Luật sư hỏi đây có phải là tài sản nhà nước không?

ĐỨC TUẤT

Theo: Tạp chí Doanh nghiệp & Hội nhập