Bình Dương: Chưa đủ căn cứ buộc tội bị cáo Nguyễn Hồng Khanh

Pháp luật doanh nghiệp | 16:56:00 17/05/2020

DNHN - Sau khi nghe Viện Kiểm sát tỉnh Bình Dương công bố cáo trạng và chứng kiến kết quả xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai ngày 09 tháng 12 năm 2019 tại Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương, dư luận xã hội không khỏi ngỡ ngàng về các chứng cứ buộc tội các bị cáo của Viện Kiểm sát. Còn gia đình bị cáo Nguyễn Hồng Khanh thì rất bức xúc và cho rằng, các cơ quan tiến hành tố tụng không có cơ sở pháp luật để buộc tội bị cáo và việc buộc tội cũng không dựa trên những chứng cứ có thật, khách quan mà dựa trên quan điểm, suy diễn của người tiến hành tố tụng. Nêu quan điểm về vụ án này, Luật sư Vũ Văn Mộc- Giám đốc Công ty Luật Nguyễn Đỗ (Tổ hợp Luật sư đa quốc gia Nguyễn Đỗ), nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kiểm sát - Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao cho rằng, việc buộc tội bị cáo Nguyễn Hồng Khanh có nhiều điểm chưa được minh bạch, rõ ràng.

Cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Bình Dương 

 

Tóm tắt nội dung vụ án như sau:

Năm 2000, bà Hồ Thị Hiệp và bà Nguyễn Hiệp Hảo (bà Hảo là con gái của bà Hiệp đang sinh sống tại Mỹ) thành lập Công ty TNHH SXTM An Tây (viết tắt Công ty An Tây) tại địa chỉ: Ấp Lồ Ồ, xã An Tây, huyện Bên Cát, tỉnh Bình Dương, trong đó, bà Hiệp góp 94,40% vốn, bà Hảo góp 5,60% vốn. Một thời gian sau, bà Hiệp tiếp tục thành lập Công ty TNHH SXCB Gỗ Mỹ Hiệp (viết tắt là Công ty G Mỹ Hiệp) tại địa chỉ: 207/12, đường 3/2, Phường 1, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ năm 2005 đến năm 2008, bà Hồ Thị Hiệp có vay vốn tại Ngân hàng BIDV - Chi nhánh Tây Sài Gòn, đia chỉ: Tầng 1 số 70 đường Lữ Gia, Phường 15, Quận 11, Tp. Hồ Chí Minh cho công ty An Tầy và Công ty Gỗ Mỹ Hiệp qua 6 hợp đồng tín dụng với tổng số tiền là 72.110.000.000 đồng (Công ty An Tây vay 05 lần với tổng sổ tiền 54.110.000.000 đồng; Công ty Gỗ Mỹ Hiệp vay 01 lần với số tiền 18.000.000.000 đồng). Tài sản thể chấp để vay vốn của 06 hợp đồng trên là quyền sử dụng 235.078m2 đất do bà Hồ Thị Hiệp và bà Nguyễn Hiệp Hảo đứng tên quyền sử dụng đất, cùng diện tích nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển của Công ty An Tây. Tài sản đảm bảo để vay vốn trị giá là 80.851.027.950 đồng, (trong đó: Quyền sử dụng đt trị giá là 71.246.000.000 đồng). Số đất thế chấp do bà Hảo đứng tên quyền sử dụng đất được bà Hảo ủy quyền cho bà Hiệp toàn quyền quyết định (Giấy ủy quyền có chứng thực của Lãnh sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại Mỹ xác nhận). Đến năm 2008, Công ty An Tây và Công ty Gỗ Mỹ Hiệp không có khả năng trả nợ nên Ngân hàng đưa khoản nợ trên vào danh sách nợ xấu, không có khả năng thanh toán. Ngày 27/12/2012, Ngân hàng BIDV - Chi nhánh Tây Sài Gòn tiến hành xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Việc xử lý tài sản thế chấp do ông Nguyễn Huy Hùng, là Giám đốc Ngân hàng BIDV- Ghi nhánh Tây Sài Gòn trực tiếp chỉ đạo, quyết định. Trình tự, thủ tục, hổ sơ có liên quan đến việc xừ lý tài sản thế chấp được giao cho ông Nguyễn Quang Lộc Lộc là Phó Trưởng phòng quan hệ khách hàng doanh nghiệp 1 trực tiếp thực hiện. Phương thức xử lý tài sản thế chấp: Ngân hàng BIDV- Chi Nhánh Tây Sài Gòn giao tài sản cho bà Hồ Thị Hiệp tự bán cho bên mua, có sự giám sát và đồng ý của ngân hàng.

Thông qua môi giới, Nguyễn Hồng Khanh đến Công ty An Tây gặp bà Hiệp để tìm hiểu để mua. Tại đây, bà Hiệp cho bị cáo Khanh biết đất dự định bán hiện đang thế chấp tại Ngân hàng BIDV- Chi Nhánh Tây Sài Gòn. Bà Hiệp đưa ra giá 700.000.000 đồng/ha đất nông nghiệp. Sau khi xem đất, bị cáo Khanh nói với bà Hiệp phải có xác nhận của ngân hàng về việc ngân hàng đồng ý cho bà Hiệp bán đẩt thì bị cáo Khanh mớị mua. Thực hiện yêu cầu của bị cáo Khanh, bà Hồ Thị Hiệp đến Ngân hàng BIDV- Chi nhánh Tây Sài Gòn gặp Nguyễn Huy Hùng và Nguyễn Quang Lộc trình bày nguyên vọng muốn bán đất là tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng. Nguyễn Huy Hùng và Nguyễn Quang Lộc đồng ý cho bà Hổ Thị Hiệp tự bán đất cho bị cáo Khanh. Giá chuyển nhượng chính thức được bà Hồ Thị Hiệp và bị cáo Khanh thỏa thuận có sự giám sát của Nguyễn Huy Hùng và Nguyễn Quang Lộc là 650.000.000 đồng/ 01 ha đất nông nghiệp. Phương thức thanh toán được thỏa thuận là bị cáo Khanh chuyển 01 phần số tiền mua tài sản vào tài khoản của bà Hiệp tại Ngân hảng BIDV- Chi nhánh Tây Sài Gòn để ngân hàng thu hồi nợ, sổ tiền còn lại bị cáo Khanh trực tiếp thanh toán bằng tiền mặt cho bà Hiệp.

Sau khi được sự đồng ý (và giải chấp) của Ngân hàng BIDV-Chi nhánh Tây Sài Gòn, bị cáo Nguyên Hồng Khanh đã nhận chuyển nhượng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 04 lần với tổng diện tích là 166.442,2m2 và 01 lần nhận chuyển nhượng 15.463m2của Nguyễn Hồng Thoại (số đất này ông Thoại cũng nhận chuyển nhượng từ bà Hiệp-Công ty An Tây). Như vậy, tổng số bị cáo Nguyễn Hồng Khanh nhận chuyển nhượng là 181.905,2m2 đất của Công ty An Tây và Công ty Gỗ Mỹ Hiệp.

Theo kết luận của Cơ quan điều tra cũng như theo cáo trạng của VKSND tỉnh Bình Dương thì căn cứ vào kết quả định giá của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự thì giá trị quyền sử dụng của 181.905,2m2 được thể chấp là 45.784.265.422. Nhưng thông qua việc chuyển nhượng cho bị cáo Nguyễn Hồng Khanh, Ngân hàng BIDV- Chi nhánh Tây Sài Gòn chỉ thu hồi được số tiền là 10.365.600.000 đồng. Cơ quan tiến hành tố tụng kết luận, các bị can Nguyễn Huy Hùng, Nguyễn Quang Lộc và Nguyên Hồng Khanh đã gây thất thoát cho Nhà nước số tiền là: 35.418.665.442 đồng và bị truy tố về tội “Vi phạm qui định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” qui định tại khoản 3 Điều 219 BLHS/2015 (sửa đổi). Trong đó, bị cáo Nguyên Hồng Khanh bị truy tố với vai trò giúp sức trong vụ án đồng phạm này.

Theo tôi, việc buộc tội bị cáo Nguyễn Hồng Khanh có nhiều điểm chưa được minh bạch, rõ ràng như sau:

Thứ nhất, các lần mua bán quyền sử dụng đất giữa bị cáo Khanh và bà Hiệp xảy ra từ năm 2012 đến 2015 (thời gian mà BLHS/1999 sửa đổi năm 2009 vẫn còn hiệu lực), nhưng Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát lại truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo Điều 219 của BLHS/2015 (sửa đổi 2017). Trong khi đó, BLHS/2015 (sửa đổi 2017) có hiệu lực thi hành bắt đầu từ 1/1/2018. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng đã:

-Vi phạm điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sư năm 2015 (sửa đổi năm 2017). Khoản 1 Điều 2 về Việc áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 của Nghị quyết qui định: Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử… đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018;

- Vi phạm khoản 1 Điều 7 về Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian. Khoản 1 Điều 7 qui định: Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

- Ngoài ra, tội “Vi phạm qui định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” được qui định tại Điều 219 BLHS/2015 (sửa đổi 2017) là một tội phạm mới, không được qui định tại Chương “Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế” của BLHS/1999 (sửa đổi 2009). Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Dương đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41 nêu trên. Điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41 qui định: Tội phạm mới quy định tại các Điều … 219, … của Bộ luật Hình sự năm 2015; … thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử. 

-Điều đó có nghĩa là, các cơ quan tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm bị cáo Nguyễn Hồng Khanh và đồng phạm về tội không được qui định trong BLHS/1999 (sửa đổi 2009). Các cơ quan tiến hành tố tụng vi pham qui định tại Điều 8 khoản 1 BLHS/1999 (sửa đổi 2009) qui định: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện…

-Ngân hàng BIDV- Tây Sài Gòn là Ngân hàng cổ phần, không phải Ngân hàng Nhà nước và do đó, tài sản của Ngân hàng cũng không phải đơn thuần là tài sản Nhà nước. Do đó, cơ quan tiến hành tố tụng qui kết các bị can làm thất thoát tài sản Nhà nước là thiếu chính xác.

Thứ hai, trong trường hợp thế chấp và xử lý tài sản thế chấp này cần phải xác định đúng mối quan hệ cũng như vai trò của các đối tượng: Ngân hàng BIDV-Tây Sài Gòn mà đại diện là Nguyễn Huy Hùng và Nguyễn Quang Lộc và Nguyên Hồng Khanh và bà Hồ Thị Hiệp. Đồng thời cũng phải nhìn nhận sự việc theo 2 mối quan hệ khác nhau: Quan hệ thế chấp để vay vốn và quan hệ “mua-bán quyền sử dụng đất”. Hai mối quan hệ này tuy có liên quan với nhau, nhưng thực chất xét về mặt pháp lý, về nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của từng đối tượng thì chúng hoàn toàn độc lập với nhau.

Theo diễn biến của sự việc thì mối quan hệ giữa Ngân hàng BIDV-tây Sài Gòn mà mà đại diện là Nguyễn Huy Hùng và Nguyễn Quang Lộc với bà Hồ Thị Hiệp là quan hệ thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn Ngân hàng và quan hệ này được điều chỉnh bởi: Các qui định tại BLDS/2005 (Chương 17 Mục 5 tiểu mục III “Thế chấp tài sản” từ điều 342 đến Điều 357 và Chương 31 về “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”được qui định từ Điều 715 đến 721); Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ và được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 11/2012 về giao dịch bảo đảm; Các qui định của Ngân hàng BIDV như: Quyết định số 3979 ngày 13/7/2009 của Ngân hàng BIDV và Quy định số 8955 và 8956 ngày 31/12/2014 của ngân hàng BIDV để xử lý tài sản đảm bảo…

Bị cáo Nguyễn Hồng Khanh không tham gia mối quan hệ này và do đó các qui định trên không liên quan đến bị cáo. Bị cáo không có nghĩa vụ, trách nhiệm phải thực hiện các qui định này và như vậy thì sao có thể nói là bị cáo đồng phạm với các bị cáo Hùng, Lộc vi phạm các qui định này được và việc buộc tội bị cáo dẫn chiếu các qui định trên về xử lý tài sản đảm bảo là không có cơ sở và thiếu thuyết phục.

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Hồng Khanh chỉ tham mối quan hệ “mua-bán” quyền sử dụng đất. Trong mối quan hệ này thì bà Hiệp-bên bán và bị cáo Khanh-bên mua là chính. Bị cáo Khanh không cần biết, không cần quan tâm và cũng không cần phải thỏa thuận với Nguyễn Huy Hùng và Nguyễn Quang Lộc là người đại diện cho Ngân hàng (như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là đúng). Bị cáo chỉ cần biết bà Hiệp và biết bà Hiệp có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất thôi là đủ. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất đã được thế chấp, do đó bà Hiệp muốn bán thì bà Hiệp phải xin Ngân hàng cho phép và cho “giải chấp”. Đó là một điều kiện pháp lý để hợp đồng chuyển nhượng không bị vô hiệu và là điều kiện pháp lý để Công chứng chứng thực hợp đồng chuyển nhượng. Khi giao dịch, bị cáo Khanh nói rõ với bà Hiệp là bà Hiệp phải có được sự đồng ý của Ngân hàng về việc cho bà hiệp bán đất đang thế chấp thì bị cáo mới mua. Do đó, khi được sự đồng ý của Ngân hàng cho phép bà Hiệp tự ý bán đất và Ngân hàng “giải chấp(là điều kiện cần thiết để xin cấp Giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng đất) thì bị cáo mới mua, mới ký hợp đồng mua bán với bà Hiệp. Việc mua bán này chính là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán và đây là hợp đồng song vụ nên bên mua và bên bán có nghĩa vụ với nhau. Bị cáo Khanh chỉ biết thực hiện các thỏa thuận trong hợp đồng với bà Hiệp. Trong hợp đồng có thể có việc thỏa thuận phương thức thanh toán hợp đồng. Còn việc Ngân hàng có tham gia vào việc ký kết hợp đồng mua bán giữa bà Hiệp và bị cáo Khanh hay không đối với bị cáo Khanh là không quan trọng. Do đây là tài sản thế chấp, nên khi tiến hành bán tài sảm thì bà Hiệp phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu của Ngân hàng. Do đó, việc Ngân hàng tham gia vào việc ký kết hợp đồng mua bán chỉ là để bảo đảm việc thanh toán nợ của bà Hiệp đối với Ngân hàng, vì nếu bà Hiệp không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng thì Ngân hàng không đồng ý cho bà Hiệp tự thực hiện việc mua-bán tài sản thế chấp và không “giải chấp”.

 Luật sư Vũ Văn Mộc

Với những căn cứ nêu trên có thể khẳng định việc qui kết bị cáo Nguyễn Hồng Khanh phạm tội “Vi phạm qui định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” vơi vai trò giúp sức là không có căn cứ.

Ngoài ra, còn một số điều nhận định trong cáo trạng của Viện Kiểm sát tỉnh Bình Dương không đúng với sự thât, thiếu chính xác, như:

- Viện Kiểm sát dẫn sai lời khai của ông Nguyễn Hiệp Hòa (là con bà Hiệp) cho rằng bị cáo Nguyễn Hồng Khanh cấu kết với bị cáo Nguyễn Quang Lộc o ép bà Hiệp phải chuyển nhượng đất với giá rẻ cho Nguyễn Hồng Khanh. Trong khi đó, ông Nguyễn Hiệp Hòa không có lời khai nào như vậy và các Chứng nhận trong các bản Hợp đồng mua bán của Cơ quan Công chứng đều xác nhận bà Hiệp rất minh mẫn và việc chuyển nhượng là bình đẳng, không bị ép buộc hay o bế để dìm giá;

-Viện Kiểm sát cho rằng, căn cứ vào kết luận định giá của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự so với giá thỏa thuận mua bán giữa bà Hiệp với bị cáo Khanh thì giá mua là quá rẻ, gây thất thoát tài sản Nhà nước (Tổng giá bán thấp hơn giá của Hội đồng định giá là 35.418.665.442 đồng). Tôi cho rằng về nhận định này của cơ quan tiến hành tố tụng cũng cần xem xét lại, vì để thu hồi nợ cho Ngân hàng Nông nghịêp và Phát triển nông thôn chi nhánh Thủ Đức, năm 2016 Cơ quan Thi hành án phát mại 20.000m2 đất cùng tài sản gắn liên với đất của Công ty An Tây chỉ với giá là 11.503.932 đồng. Ông Nguyễn Trung Kiên đại diện cho Công ty TNHH cơ khí xây dựng Thiên Phát Lộc là người trúng đấu giá.(20.000 m2 đất này cũng nằm trong khuôn viên thuộc mảnh đất do bà Hiệp đứng tên quyền sử dụng đất). Trong khi đó, theo Chứng thư thẩm định giá số 138 ngày 08/7/2013 của Công ty Cổ phần thẩm định giá Đông Á định giá Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên thửa đất trên là 25.688.087.000 đồng (xem trang 2 bản Cáo trạng số 20/CT-VKSBD-P1 ngày 21 tháng 6 năm 2019 của Viện Kiểm sát tỉnh Bình Dương). Như vậy, giá mà Hội đồng định giá nêu ra là cái giá “trên trời”, không thực tế, cao gấp hàng nghìn lần so với giá bán. Và nếu đem so sánh giá phát mại của Cơ quan Thi hành án nói trên với giá mà bị cáo Khanh mua trực tiếp của bà Hiệp (650 triệu/1ha) thì giá bị cáo Khanh mua cao hơn trăm lần giá Cơ quan Thi hành án phát mại. Do đó, có thể khảng định rằng cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Dương căn cứ vào kết luận của Hội đồng định giá để cho rằng các bị cáo cùng bà Hiệp thỏa thuận bán với giá quá rẻ để kết tội các bị cáo là không chính xác;

-Ông Nguyễn Hồng Thoại đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng của mảnh đất 15.463m2 và 54 máy móc, thiết bị từ Công ty An Tây. Sau đó, ông Thoại chuyển nhượng lại cho bị cáo Nguyễn Hồng Khanh, thế nhưng số đất này được các cơ quan tiến hành tố tụng cộng dồn lại với số đất mà bị cáo Khanh mua trực tiếp từ bà Hiệp để quy trách nhiệm cho bị cáo là không chính xác, không khách quan.

Qua theo dõi những “điểm mờ” nêu trên của cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Nguyễn Hồng Khanh thì việc băn khoăn của dư luận về tính khách quan, vô tư của cơ quan tiến hành tố tụng là có cơ sở và việc gây bức xúc cho bị cáo và gia đình bị cáo là không tránh khỏi. 

Luật sư Vũ Văn Mộc

Theo: Tạp chí Doanh nghiệp & Hội nhập