Việt Nam là cầu nối quan trọng trong hợp tác ASEAN - Nga

DNHN - Nga trở thành một phần của Diễn đàn khu vực ASEAN vào năm 1995 cùng với Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và trở thành đối tác đối thoại đầy đủ vào năm 1996. Kể từ đó, thương mại hai chiều đã tăng khiêm tốn từ 500 triệu USD năm 2005 lên 18,2 tỷ USD năm 2019. Mặc dù có tiềm năng lớn nhưng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nga vào ASEAN chỉ đạt 45 triệu USD trong cùng năm; một lượng nhỏ đáng kể khi khối này nhận được 160 tỷ USD vốn FDI vào năm 2019.

Hầu hết các khoản đầu tư của Nga trong khu vực đều dựa vào năng lượng - dầu, khí đốt và hạt nhân - nhưng ASEAN đang đa dạng hóa các đối tác nhập khẩu năng lượng hơn là phụ thuộc vào một đối tác. Trong cuộc Tham vấn giữa các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM) - Nga lần thứ 9 vào tháng 8/2020, cả hai bên đều thấy tiềm năng trong việc hiện thực hóa các sáng kiến ​​trong các lĩnh vực nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, dịch vụ tài chính và công nghệ kỹ thuật số.

Ngoài ra, hai bên đã ký Kế hoạch Hành động toàn diện ASEAN-Nga giai đoạn 2021-2025 vào năm 2020 nhằm hợp tác trong các lĩnh vực an ninh, chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia, khoa học và công nghệ, thành phố thông minh, y tế và giảm nhẹ thiên tai. Việc Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Khu vực (RCEP) đã được ký kết vào năm 2020 là hiệp định thương mại tự do lớn nhất thế giới, RCEP cho phép các nhà đầu tư Nga tiếp cận hơn 2 tỷ người tiêu dùng, trong đó riêng ASEAN là 600 triệu người. Thương mại giữa Nga và ASEAN sẽ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết khi Đông Nam Á đang mong muốn trở thành một hành lang thương mại nổi bật hơn. Bản thân Nga là quốc gia hàng đầu của Hiệp định Thương mại tự do Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU) và đã ký FTA riêng với Singapore và Việt Nam.

 Ảnh minh họa.

Nga và Việt Nam đánh dấu 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2021 và mặc dù bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 5,7 tỷ USD vào năm 2020, tăng 15% so với năm 2019. Quan hệ thương mại giữa hai nước vẫn còn khiêm tốn mặc dù điều này được kỳ vọng sẽ tăng lên khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp tận dụng lợi thế của FTA Việt Nam-EAEU.

Hơn nữa, việc Việt Nam tham gia RCEP do liên kết với ASEAN sẽ mang lại cho các công ty Nga cơ hội quảng bá hàng hóa và dịch vụ tới hơn 2 tỷ người tiêu dùng ở châu Á. Dầu khí vẫn chiếm ưu thế trong thương mại giữa Nga và Việt Nam, và các tập đoàn dầu khí lớn của Nga, chẳng hạn như Gazprom và Rosneft, đang tham gia vào nhiều dự án hơn trên thềm lục địa của Việt Nam. Doanh nghiệp Nga - Việt Vietsovpetro là công ty lớn thứ 8 ở Việt Nam và sản xuất 1/3 lượng dầu của cả nước.

Những ngành cho thấy tiềm năng lớn nhất đối với các nhà đầu tư Nga tại Việt Nam có thể bao gồm:

(i) Nông nghiệp và thực phẩm: Có nhiều cơ hội mở rộng để tăng cường xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm của Nga sang Việt Nam, đặc biệt là ngũ cốc, quả óc chó, hạt thông và dầu hướng dương. Ngoài ra, Việt Nam là nước nhập khẩu lúa mì lớn thứ 4 của Nga, nhập khẩu hơn 1,5 triệu tấn. Lúa mì là một loại lương thực chính quan trọng ở Việt Nam vì được tiêu thụ hàng ngày trong các sản phẩm bánh mì, mì và bánh quy ngọt.

(ii) Sản xuất hàng dệt may: Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu hàng dệt may hàng đầu thế giới và các ngành này đóng góp tới 16% GDP. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), có hiệu lực vào tháng 8/2020, cung cấp cho các nhà sản xuất Việt Nam những thị trường xuất khẩu mới. Ngành công nghiệp này có ba phân ngành: phân ngành thượng nguồn, bao gồm sản xuất sợi; khu vực trung nguồn, chủ yếu liên quan đến sản xuất và nhuộm vải; và lĩnh vực hạ nguồn, bao gồm sản xuất hàng may mặc.

(iii) Thiết bị điện tử: Việt Nam tăng hạng là nước xuất khẩu hàng điện tử từ hạng 47 năm 2001 lên hạng 12 năm 2019, nhờ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng từ Trung Quốc sang Đông Nam Á. Xuất khẩu điện thoại di động được xếp thứ hai trên toàn thế giới về xuất khẩu, trị giá hơn 50 tỷ USD vào năm 2019. Ngành công nghiệp điện tử đã được thống trị bởi các công ty nước ngoài thành lập, chiếm hơn 90% tổng kim ngạch xuất khẩu cũng như 80% thị trường nội địa. Các mặt hàng điện tử xuất khẩu chính của Việt Nam là thiết bị truyền dẫn, điện thoại di động, TV, máy ảnh (41%), thiết bị điện (18,2%), và mạch tích hợp điện tử và cụm vi mô (11,9%).

Theo Báo Công thương

Tin liên quan