![]() |
| Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) ra mắt Báo cáo Nâng tầm Nhân lực Việt Nam 2026. |
Trong bảy nhóm năng lực của sinh viên mới ra trường, các doanh nghiệp đánh giá năng lực áp dụng công nghệ là nhóm duy nhất các em nhìn chung đạt yêu cầu. Thế nhưng, 94% nhà tuyển dụng cho biết họ đã đòi hỏi cao hơn về năng lực số và AI so với hai, ba năm trước.
Đây là một trong những phát hiện đáng chú ý của Báo cáo Nâng tầm Nhân lực Việt Nam 2026 do Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) phối hợp cùng công ty nghiên cứu Decision Lab công bố ngày 8/10 tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số và Triển lãm giáo dục, công nghệ giáo dục (IECEE 2026) do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức. Nhóm nghiên cứu khảo sát 375 công ty trong và ngoài nước về quyết định tuyển dụng đối với sinh viên mới ra trường.
Thiếu hụt nhất khi không được cầm tay chỉ việc
Cả bảy năng lực con người đều được 74% - 86% nhà tuyển dụng coi là quan trọng. Nhưng khi nhìn vào cách cử nhân mới thực sự làm việc, sáu năng lực vẫn chưa đạt kỳ vọng. Khoảng thiếu hụt lớn nhất nằm ở quản lý thời gian và giải quyết vấn đề, sau đó là giao tiếp và tính thích ứng. Riêng năng lực số nhỉnh hơn kỳ vọng 3 điểm.
Điểm chung của những năng lực chưa đạt kỳ vọng là sự thiếu hụt lộ rõ khi cử nhân gặp phải công việc gấp, thông tin chưa đầy đủ, và phải phối hợp với nhiều người để thực hiện. Khi này, doanh nghiệp cần nhân sự giữ đúng cam kết, báo cáo sớm khi việc có nguy cơ trễ hạn, và tự đề xuất phương án giải quyết thay vì chờ hướng dẫn chi tiết.
Khi được hỏi về bằng cấp, các nhà tuyển dụng có xu hướng đánh giá cao bằng cấp quốc tế hơn, vì họ thấy giá trị bổ sung vượt ra ngoài khả năng tiếng Anh, với hơn một nửa nghiêng về bằng quốc tế. Nhà tuyển dụng mô tả sinh viên tốt nghiệp bằng quốc tế thường thể hiện sự tự tin cao hơn, thoải mái hơn khi làm việc trong môi trường đa văn hóa và sẵn sàng hơn trong việc đặt câu hỏi, phản biện các giả định và trình bày quan điểm với đồng nghiệp cấp cao.
AI nâng chuẩn đầu vào
83% doanh nghiệp cho biết AI đã hoặc đang bắt đầu làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng. Nhưng họ không cần kỹ sư AI: chỉ 3% yêu cầu kỹ năng lập trình hay phân tích dữ liệu AI. 79% muốn cử nhân dùng thạo công cụ AI phổ biến hằng ngày, hoặc biết đưa AI vào bài toán cụ thể của vị trí mình.
Đặc biệt, theo các doanh nghiệp, quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường hiện chủ yếu dừng ở khâu tuyển dụng: 59% doanh nghiệp nhận sinh viên thực tập, nhưng chỉ 15% tham gia góp ý chương trình đào tạo, và 23% chưa hợp tác với bất kỳ trường đại học nào. Báo cáo chỉ ra ba điều kiện để thực tập thực sự tạo ra năng lực: Công việc có ý nghĩa, người giám sát sát sao, và có bằng chứng về đóng góp của sinh viên.
![]() |
| Các diễn giả trao đổi tại phiên tọa đàm |
| Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) là trường đại học đầu tiên tại Việt Nam đạt chứng nhận 5 sao của Quacquarelli Symonds (QS), đồng thời là trường đại học đầu tiên tại Việt Nam và ASEAN được nhận chứng nhận chất lượng toàn cầu từ QAA, Cơ quan Đảm bảo Chất lượng Giáo dục Đại học của Vương quốc Anh. Đây là hai trong những cơ quan kiểm định uy tín nhất trên thế giới. Chương trình học của BUV được thiết kế bài bản, luôn cập nhật xu hướng mới nhất của ngành, chú trọng tích hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực hành, đảm bảo 100% sinh viên có việc làm hoặc tiếp tục học lên cao trong vòng ba tháng sau khi tốt nghiệp. |
Bằng cấp là điều kiện cần, năng lực là điều kiện đủ
Nhắm đưa ra các giải pháp cho các phát hiện này, BUV giới thiệu Mô hình đào tạo “Degree Plus” mới trong khuôn khổ sự kiện. Theo đó, mỗi sinh viên BUV tốt nghiệp với tấm bằng đại học Anh Quốc, được đảm bảo chất lượng ba lớp: Được công nhận bởi Bộ giáo dục Đào tạo Việt Nam, được chứng nhận chất lượng bởi Cơ quan Đảm bảo Chất lượng Giáo dục Đại học Vương quốc Anh, và đáp ứng chuẩn mực quốc tế, bao gồm xếp hạng QS 5 sao.
Đi kèm tấm bằng là “Hộ chiếu Năng lực Nghề nghiệp Toàn cầu” (Global Employability Passport), được trao cùng lúc khi tốt nghiệp. Hộ chiếu được xây dựng từ ba trụ cột đào tạo kỹ năng, bổ sung song song với chương trình đào tạo học thuật dành cho sinh viên.
Trụ cột Kỹ năng nghề nghiệp gồm sáu học phần kéo dài trong 12 tuần, trong đó kĩ năng Quản lý thời gian và dự án, khả năng ứng dụng AI,… cải thiện trực diện các phát hiện then chốt của báo cáo. Sinh viên vận dụng các kỹ năng học được thông qua thực tập và dự án thực tế, cùng hơn 500 đối tác doanh nghiệp thuộc mạng lưới của BUV.
Trụ cột Kỹ năng cá nhân bao gồm năm học phần kéo dài 12 tuần, trong đó có Kỹ năng xây dựng chiến lược và Giải quyết vấn đề, Khả năng phục hồi và Thích ứng, được tích hợp trong học phí. Tất cả các học phần đều được đào tạo bởi các Đơn vị đào tạo được chứng nhận tại Việt Nam và thế giới.
Trụ cột Trải nghiệm quốc tế trải dài từ môi trường quốc tế tại chính BUV, tới các chuyến trao đổi, học tập và thực tập ở nước ngoài, qua mạng lưới hơn 80 trường đối tác tại 19 quốc gia của BUV.
Mô hình giáo dục học thuật đi kèm kỹ năng làm việc mới của BUV phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó nâng cao chuẩn năng lực số và trí tuệ nhân tạo, phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực con người Việt Nam thời đại mới, và giáo dục, đào tạo công dân Việt Nam trở thành công dân toàn cầu là những yêu cầu trọng tâm.
"Công nghệ càng mạnh, giá trị của khả năng phán đoán con người càng cần sắc bén. Câu hỏi quan trọng giờ đây không chỉ dừng lại ở việc sinh viên cầm tấm bằng gì khi tốt nghiệp, mà là năng lực thực tế của các em cho phép làm được gì trong ngày đầu tiên đi làm", ông Paul Bennett, Giám đốc Điều hành Khối Marketing và Tuyển sinh BUV, phát biểu.
Lời giải không của riêng ai
"Theo báo cáo, Chính phủ, nhà tuyển dụng, trường đại học và sinh viên đều giữ một phần lời giải để thu hẹp khoảng cách giữa bằng cấp và năng lực. Do đó, BUV công bố ra thị trường toàn văn báo cáo, và cam kết tiếp tục duy trì nghiên cứu định kỳ vì lợi ích chung của toàn ngành", ông Rick Bennett – Phó Hiệu trưởng kiêm Phó Chủ tịch BUV, nhấn mạnh.
Phiên Tọa đàm chuyên gia với chủ đề “Định hình chân dung nhân tài thời đại 4.0” đã đi vào thảo luận chuyên sâu phương pháp giúp nhà trường, doanh nghiệp và các bên liên quan phối hợp chặt chẽ hơn, từ thiết kế chương trình, mở rộng cơ hội làm việc, đến xây dựng cơ chế phản hồi thường xuyên từ thị trường lao động.