Chủ nhật 18/10/2026 18:51
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Nghị quyết 115: Lời giải cho công nghiệp hỗ trợ?

12/10/2020 00:00
Ngày 6-8-2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết 115/NQ-CP về những giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT), đã thu hút sự quan tâm của doanh nghiệp (DN). Theo nhiều ý kiến nếu các giải pháp trong Nghị quyết được thực thi tốt, sẽ trở thàn

Nghị quyết 115: Lời giải cho công nghiệp hỗ trợ?

Bài ca “thiếu đủ thứ”

Dệt may là ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam luôn lọt vào top ngành hưởng lợi khi Hiệp định thương mại tự do EU - Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực. Thế nhưng việc hưởng lợi ấy vẫn chỉ nằm trên lý thuyết, vì dệt may lâu nay vẫn vướng nút thắt không đáp ứng tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ. Bởi, để được giảm thuế theo quy định tại EVFTA, sản phẩm phải tuân thủ chặt chẽ quy tắc về xuất xứ và thỏa mãn 2 điều kiện: vải sử dụng để tạo thành sản phẩm phải có xuất xứ từ Việt Nam hoặc EU; việc cắt và may phải được thực hiện tại Việt Nam hoặc EU.

Dù vậy, EVFTA cũng có cam kết linh hoạt về xuất xứ cộng gộp. Cụ thể với trường hợp nếu vải được DN sử dụng có xuất xứ từ nước có FTA với EU và cả Việt Nam (như Hàn Quốc) cũng được coi là xuất xứ hợp lệ. Song hiện nay DN Việt Nam vẫn chủ yếu nhập nguyên liệu của Trung Quốc, còn Hàn Quốc nhập rất ít và cũng không phải là thị trường cung ứng nguyên liệu lớn nên mẫu mã không đa dạng, giá thành lại cao.

Thực tế chiến lược phát triển CNHT cho ngành dệt may không phải đến khi EVFTA có hiệu lực mới được nhắc đến, mà là nguyện vọng lâu nay của DN ngành may. Bởi việc chủ động nguyên liệu có thể giúp DN chuyển qua làm hàng với hình thức cao hơn như FOB hay ODM, thay vì gia công với giá trị gia tăng thấp như hiện nay. Song ngành may mới tự cung ứng được 25-30% nhu cầu nguyên phụ liệu, trong đó mảng dệt còn rất hạn chế. Nguyên nhân do DN chưa đủ tiềm lực đầu tư nhà máy nguyên phụ liệu có quy mô tương đối. Chẳng hạn, để đầu tư cho nhà máy sản xuất vải quy mô 10 triệu m/năm cần khoảng 30 triệu USD (gần 700 tỷ đồng). Đây là con số quá sức so với hầu hết DN, chưa kể nếu có khả năng đầu tư, việc tìm đầu ra cho sản phẩm cũng là thách thức không nhỏ.

Không chỉ ngành may, CNHT của Việt Nam nói chung đến nay vẫn rất yếu. Câu nói Việt Nam không sản xuất nổi chiếc ốc vít trong một hội thảo với Samsung, đã từng làm nhức nhối nhiều DN. Tương tự, ngành công nghiệp phụ trợ ô tô của Việt Nam so với các nước trong khu vực vẫn còn nhiều hạn chế. Theo báo cáo của Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam, tính đến tháng 8-2019, Việt Nam có 276 nhà cung cấp linh kiện phụ trợ cho ngành công nghiệp ô tô, trong khi Malaysia 627 công ty, Indonesia 729 công ty và Thái Lan hơn 2.000 công ty.

Thiếu vốn đã làm nhiều DN không thể đầu tư. Trước thực tế này, nhiều địa phương đã tiên phong việc hỗ trợ một phần lãi vay cho DN, như TPHCM đã sớm đưa ra các gói kích cầu đầu tư. Nhưng đến nay mới có 24 dự án được phê duyệt trong tổng số 1.500 dự án tiếp cận chương trình. Thiếu vốn, yếu công nghệ và dung lượng thị trường trong nước nhỏ, đã khiến DN loay hoay với câu hỏi đầu tư trước rồi đi tìm khách hàng, hay tìm kiếm được đầu ra mới đầu tư. Bởi lẽ, chi phí đầu tư không nhỏ, nếu không làm hết công suất sẽ lâu thu hồi vốn... Tất cả đã làm kìm hãm tốc độ phát triển ngành CNHT Việt Nam bao lâu nay.

Chờ lực đẩy từ Nghị quyết 115

Nghị quyết 115 đã đưa ra nhiều giải pháp sát sườn với sự phát triển của ngành CNHT, như tiếp tục chính sách ưu đãi lãi suất với DN CNHT và công nghiệp chế biến, chế tạo (Nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất tối đa 5%/năm); nâng cao năng lực DN CNHT thông qua xây dựng các trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp vùng từ vốn đầu tư của trung ương và địa phương (cụ thể sẽ có 5 trung tâm, trong đó 3 trung tâm lĩnh vực cơ khí, 2 trung tâm lĩnh vực dệt may, da giày); phát triển chuỗi giá trị trong nước thúc đẩy liên kết giữa DN Việt và DN đa quốc gia, xây dựng các khu CNHT tập trung để tạo cụm liên kết ngành; xây dựng đề án thí điểm đầu tư các khu công nghiệp tập trung…

Chỉ tính riêng ngành cơ khí nghị quyết mới có nhiều nội dung đáng quan tâm. Thí dụ, việc xây dựng khu công nghiệp tập trung, các DN trong Hội Cơ khí điện TPHCM đã kiến nghị TP từ hơn 5 năm nay nhưng chưa tiến hành được. Hy vọng Nghị quyết 115 sẽ tạo ra động lực để sớm hình thành các khu công nghiệp như mong muốn của DN. Thêm nữa việc lập trung tâm kỹ thuật vùng trong đó ngành cơ khí có 3 trung tâm cũng đang được DN chờ đợi. Bởi lâu nay các DN nhỏ không thể đầu tư hết máy móc, thiết bị, nếu có trung tâm kỹ thuật sẽ hỗ trợ tốt cho DN. Tuy nhiên, vấn đề khai thác, vận hành hiệu quả trung tâm này không đơn giản, vì trước đó đã có một số trung tâm như trung tâm nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới chưa phát huy được tác dụng với DN.

Nhiều nội dung mới chứa đựng kỳ vọng của DN, song hầu hết DN quan tâm là hành trình triển khai của Nghị quyết 115, bởi con đường từ nghị quyết đến hành động vốn chưa khi nào ngắn. Thế nên mục tiêu cho một số ngành, như đến năm 2025 tỷ lệ cung cấp trong nước của ngành dệt may đạt 65% e khó thực hiện được. Bên cạnh đó, dù Nhà nước có nghị quyết sát sườn, các bộ ngành vào cuộc tích cực, để đạt được mục tiêu như kỳ vọng cần sự quyết tâm của chính DN.

“Đầu tư vào mảng CNHT là con đường đầy thách thức, đòi hỏi DN phải có ý chí, nội lực và đây là bài toán mà mỗi chủ DN phải tự quyết định. Khi chúng tôi đầu tư dự án hơn 100 tỷ đồng đã phải xác định con đường đi lâu dài, hiệu quả thu về sau 5, 10 năm thậm chí 15 năm mới nhìn thấy được” - ông Đỗ Phước Tống, Chủ tịch HĐTV Công ty cơ khí Duy Khanh, Chủ tịch Hội DN cơ khí điện TPHCM, chia sẻ.

Ông Huỳnh Anh Tuấn, chuyên gia cao cấp dự án USAID-LinkSME:

Nâng cao tính chuyên nghiệp của DN Trước khi nhắc đến sự trợ lực của Chính phủ, tự thân các DN phải thay đổi nếu muốn tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn nước ngoài. Trong suốt hơn 5 năm qua khi cùng các cộng sự đi tìm kiếm các nhà cung ứng Việt Nam cho các DN FDI, tôi nhận thấy có vài điểm cần lưu ý.

Thứ nhất, việc báo giá sản phẩm của DN trong nước thường cao hơn 30-50% so với sản phẩm của Trung Quốc. Thậm chí với khách hàng đến từ châu Âu, Mỹ việc báo giá cao hơn rất nhiều. Điều này dựa vào mong muốn của DN hơn là những tính toán kỹ thuật. Vì thế, DN đừng muốn “ăn ngay” từ đơn hàng đầu tiên, mà có thể chấp nhận lỗ trong vài đơn hàng đầu (coi như chi phí đầu tư, học hỏi). Nếu quyết tâm thay đổi có thể từ đơn hàng thứ 5 DN sẽ cạnh tranh giá tốt và có lời. DN cũng cần chú ý đến thời gian báo giá. Thông thường các DN phải mất 3 tuần mới có thể báo giá, thêm vài tuần trả giá, làm mẫu… mất rất nhiều thời gian. DN nên đưa ra mức giá cơ bản trước để khách hàng tham khảo, sau đó đưa ra mức cuối cùng.

Thứ hai, phản hồi của nhiều DN Việt chưa tích cực. Sau khi DN giới thiệu sản phẩm, khách hàng yêu cầu báo giá nhưng nhiều DN báo giá chậm, thậm chí không có phản hồi.

Làm như vậy tên DN sẽ bị xếp vào danh mục độ tín nhiệm thấp, sau này rất khó được đưa vào danh sách dù giá tốt hay sản phẩm ổn định. Thứ ba, phải có năng lực thực sự. Nhiều DN nói hay nhưng khi xuống nhà máy không thấy máy móc sản xuất, DN nói sẽ liên kết với DN A, B, C… sẽ khiến đối tác cảm thấy rủi ro cao. Có căn bệnh cố hữu của không ít DN là làm hàng mẫu tốt nhưng khi sản xuất hàng loạt chất lượng lại không ổn định. Ngoài ra nhiều DN ít tập trung vào các tài sản vô hình (quản lý chất lượng, số hóa, con người, tư duy lãnh đạo…).

Đa số DN Việt vẫn còn suy nghĩ nhân công của mình rẻ nên có thể cạnh tranh được với nhiều quốc gia, nhưng thực tế năng suất lao động ở nhiều nước cao hơn nhiều lần nên tưởng rẻ lại không rẻ. Cuối cùng là tính chuyên nghiệp của DN. DN nên tập trung làm một dòng sản phẩm thay vì cái gì cũng ôm hết. Khi có thể làm nhà cung ứng cho một đối tác lớn, cơ hội trở thành nhà cung ứng cho các đối tác khác cũng rất cao.

Thanh Dung (ghi)

Thanh Lâm

Tin bài khác
Việt Nam và Iceland tăng tốc triển khai FTA với EFTA

Việt Nam và Iceland tăng tốc triển khai FTA với EFTA

Việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA mở thêm dư địa hợp tác giữa Việt Nam và Iceland, nhất là trong thương mại, đầu tư và năng lượng. Hai nước nhất trí tăng cường phối hợp, thúc đẩy các thủ tục cần thiết để sớm đưa Hiệp định vào thực tiễn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp khai thác hiệu quả những cơ hội mới.
Hiệp định Việt Nam - EFTA mở thêm dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

Hiệp định Việt Nam - EFTA mở thêm dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

Sự kiện Việt Nam ký Hiệp định Thương mại tự do với Hiệp hội Mậu dịch Tự do châu Âu (EFTA) là dấu mốc quan trọng, mở thêm cánh cửa tiếp cận các thị trường có sức mua cao, đồng thời tạo cơ hội thu hút vốn, công nghệ và mở rộng cơ hội việc làm. Hiệu quả thực tế sẽ phụ thuộc vào khả năng tận dụng ưu đãi và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2026 ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD. Kết quả này cùng đà tăng trưởng kinh tế và dòng vốn đầu tư nước ngoài cho thấy quy mô thương mại tiếp tục mở rộng, song cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng giá trị hàng hóa và củng cố sức chống chịu của doanh nghiệp.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Trước áp lực chi phí vốn còn cao, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẩn trương triển khai các giải pháp thực chất nhằm giảm lãi suất cho vay từ 1,5 - 2% đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên; đồng thời tăng cường kiểm soát, xử lý tình trạng sở hữu chéo, sở hữu ngầm và thao túng hoạt động ngân hàng.
Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Dù có lợi thế về nông nghiệp, thủy sản và xuất khẩu, doanh nghiệp đầu tàu Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá vì vướng vốn, lãi suất, chính sách và hạn chế công nghệ. Tăng cường liên kết vùng, cải thiện môi trường đầu tư và tháo gỡ điểm nghẽn thực thi là những yêu cầu cấp thiết.
Khơi thông nguồn vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%

Khơi thông nguồn vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2027 đặt ra yêu cầu cao hơn đối với khả năng huy động và sử dụng nguồn lực của nền kinh tế. Kết luận số 106-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh việc phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ, cải thiện môi trường đầu tư và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển. Đây là những định hướng quan trọng nhằm chuyển mục tiêu tăng trưởng thành kết quả thực chất.
Điều hành giá cuối năm 2026: Chủ động nguồn cung, kiểm soát lạm phát

Điều hành giá cuối năm 2026: Chủ động nguồn cung, kiểm soát lạm phát

Công điện số 70/CĐ-TTg ngày 15/10/2026 yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tăng cường quản lý, điều hành giá, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, phấn đấu kiểm soát CPI bình quân năm 2026 tăng khoảng 4,5%.
TP. Hồ Chí Minh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số

TP. Hồ Chí Minh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số

GRDP tăng 9,06% trong 9 tháng đầu năm 2026, thu hút 17,8 tỷ USD vốn FDI và giải ngân đầu tư công đạt 75,5% kế hoạch, TP. Hồ Chí Minh đang tăng tốc để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cả năm. Tuy nhiên, với yêu cầu GRDP quý IV tăng 13,23%, thành phố cần tiếp tục khơi thông nguồn lực, tháo gỡ vướng mắc dự án và thúc đẩy đầu tư công lẫn tư nhân.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Ưu tiên nguồn lực cho những nhu cầu thiết yếu của người dân

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Ưu tiên nguồn lực cho những nhu cầu thiết yếu của người dân

Tại Hội nghị triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035 sáng 15/10, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu tập trung nguồn lực có trọng tâm, ưu tiên nước sinh hoạt, đất ở, đất sản xuất và các nhiệm vụ trực tiếp cải thiện đời sống, nhất là tại vùng khó khăn; kiên quyết không để người dân phải chờ đợi, không để chính sách bị gián đoạn.
Việt Nam - Lào thúc tiến độ các dự án giao thông, năng lượng trọng điểm

Việt Nam - Lào thúc tiến độ các dự án giao thông, năng lượng trọng điểm

Nhằm đưa quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào phát triển thực chất, hiệu quả hơn trong giai đoạn mới, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh cần đẩy nhanh các tuyến kết nối chiến lược, khơi thông dòng vốn đầu tư và mở rộng hợp tác thương mại.
Đưa doanh nghiệp vào trung tâm hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ

Đưa doanh nghiệp vào trung tâm hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ

Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, gắn nghiên cứu với nhu cầu thị trường và đẩy mạnh thương mại hóa công nghệ là những nhiệm vụ trọng tâm được Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh. Trong đó, yêu cầu nghiên cứu cơ chế đặt hàng phát triển sản phẩm công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có tiềm năng tăng trưởng nhanh được kỳ vọng tạo động lực mới cho nền kinh tế.
Bắc Ninh: Khi dòng vốn FDI cần tạo sức bật cho doanh nghiệp nội địa

Bắc Ninh: Khi dòng vốn FDI cần tạo sức bật cho doanh nghiệp nội địa

Xuất khẩu đạt 88,3 tỷ USD, thu hút hàng tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài và duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP hai con số, Bắc Ninh đang khẳng định vị thế trung tâm công nghiệp lớn của cả nước. Tuy nhiên, phía sau những con số ấn tượng là bài toán quan trọng hơn: làm thế nào để dòng vốn FDI tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, giúp doanh nghiệp trong nước nâng năng lực sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam - Hoa Kỳ thúc đẩy hợp tác 5 lĩnh vực chiến lược

Việt Nam - Hoa Kỳ thúc đẩy hợp tác 5 lĩnh vực chiến lược

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đề nghị Việt Nam - Hoa Kỳ mở rộng hợp tác trong công nghệ cao, năng lượng sạch, chuỗi cung ứng, tài chính - đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân lực, góp phần đưa quan hệ kinh tế song phương phát triển thực chất, bền vững.
TP. Hồ Chí Minh: Đối thoại cùng Thủ tướng tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026

TP. Hồ Chí Minh: Đối thoại cùng Thủ tướng tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026

Sáng ngày 28/10/2026, dự kiến Phiên Toàn thể cấp cao có chủ đề “Sự hội tụ của các cực tăng trưởng mới toàn cầu” với những định hướng chiến lược từ Thủ tướng Chính phủ sẽ diễn ra tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026 (The Autumn Economic Forum 2026), TP. Hồ Chí Minh.
Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 9,2%

Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 9,2%

Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 từ 8,5% lên 9,2%, sau khi kinh tế tăng 9,01% trong 9 tháng. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, nền kinh tế cần bứt tốc mạnh trong quý IV, trong khi áp lực giá cả và dấu hiệu suy yếu của đơn hàng xuất khẩu vẫn hiện hữu.