Ngày 18/10, tại Hà Nội, Việt Nam và các nước thành viên Hiệp hội Mậu dịch Tự do châu Âu (EFTA) chính thức ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA (VEFTA), dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein, sau hơn 14 năm đàm phán với 21 vòng chính thức.
Dự lễ ký có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phạm Gia Túc, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ; Lê Hoài Trung, Bộ trưởng Ngoại giao. Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Nguyễn Hải Ninh, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Lê Mạnh Hùng, Bộ trưởng Công Thương; Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Tài chính, cùng đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành Việt Nam.
Về phía Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), tham dự có bà Brigitte Haas, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Công quốc Liechtenstein; ông Guy Parmelin, Tổng thống kiêm Bộ trưởng Kinh tế Thụy Sĩ; bà Þorgerður Katrín Gunnarsdóttir, Bộ trưởng Ngoại giao Iceland; bà Astrid Bergmål, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Na Uy, cùng các đại sứ, đại diện cơ quan ngoại giao và đoàn đại biểu các quốc gia thành viên EFTA.
![]() |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu chứng kiến Lễ ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EFTA (VEFTA) - Ảnh: https://nhandan.vn |
Điểm đáng chú ý của hiệp định là khả năng mở rộng thị trường cho hàng Việt Nam, tạo thêm động lực thu hút đầu tư chất lượng cao và nâng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cơ hội chỉ chuyển thành doanh thu, việc làm và thu nhập khi doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu về xuất xứ, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật và phát triển bền vững.
Thêm thị trường cho hàng Việt Nam
EFTA là tổ chức liên chính phủ gồm bốn quốc gia: Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein. Đây là nhóm thị trường có trình độ phát triển cao, năng lực công nghệ và sức mua đáng chú ý, tạo dư địa cho hàng hóa Việt Nam mở rộng hiện diện tại châu Âu.
Theo Bộ Công Thương, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và EFTA năm 2025 đạt 4,8 tỷ EUR, trong đó Việt Nam xuất siêu 2,5 tỷ EUR, không tính số liệu vàng của Thụy Sĩ. Các nhóm hàng Việt Nam xuất khẩu chủ yếu gồm máy móc điện, giày dép, hàng may mặc và máy móc cơ khí. Ở chiều ngược lại, Việt Nam nhập khẩu từ EFTA các mặt hàng như máy móc điện, dược phẩm, thiết bị cơ khí và thủy sản.
Quy mô trao đổi thương mại hiện có cho thấy quan hệ kinh tế hai bên đã hình thành nền tảng nhất định. Hiệp định được kỳ vọng tiếp tục cải thiện khả năng tiếp cận thị trường thông qua các cam kết về thuế quan và thuận lợi hóa thương mại.
| Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA đánh dấu bước tiến trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với 4 nước thành viên EFTA gồm Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein. Hiệp định bao quát các lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và phát triển bền vững, được kỳ vọng giúp Việt Nam đa dạng hóa thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư và công nghệ từ châu Âu. |
Với doanh nghiệp xuất khẩu, lợi ích đáng quan tâm là cơ hội mở rộng khách hàng, đa dạng hóa thị trường và giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống. Những ngành có sản phẩm phù hợp với nhu cầu của EFTA như dệt may, giày dép, thủy sản và cơ khí có thể nghiên cứu thêm khả năng gia tăng thị phần.
Dù vậy, không nên mặc định mọi mặt hàng đều được hưởng mức ưu đãi giống nhau. Khả năng giảm thuế thực tế phụ thuộc vào cam kết đối với từng dòng sản phẩm, quy tắc xuất xứ và các điều kiện áp dụng khi hiệp định có hiệu lực.
Cơ hội thu hút vốn và công nghệ chất lượng cao
Bên cạnh thương mại hàng hóa, VEFTA bao trùm các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, cạnh tranh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, giải quyết tranh chấp, thương mại và phát triển bền vững. Phạm vi này tạo nền tảng để hợp tác kinh tế tiến xa hơn hoạt động xuất nhập khẩu đơn thuần.
![]() |
| Bộ trưởng Công thương Lê Mạnh Hùng cùng đại diện các nước thành viên Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), gồm: Ngài Guy Parmelin, Tổng thống kiêm Bộ trưởng Kinh tế Thụy Sĩ; bà Brigitte Haas, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Liechtenstein; bà Þorgerður Katrín Gunnarsdóttir, Bộ trưởng Ngoại giao Iceland và bà Astrid Bergmål, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Na Uy ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EFTA (VEFTA) - Ảnh: https://nhandan.vn |
Số liệu của Chính phủ cho thấy, tính đến cuối năm 2025, Thụy Sĩ có 234 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký hơn 2,4 tỷ USD. Na Uy có 62 dự án, tổng vốn đăng ký hơn 201 triệu USD. Các nhà đầu tư EFTA cũng quan tâm đến những lĩnh vực như công nghệ cao, logistics, cơ khí chính xác, năng lượng và đổi mới sáng tạo.
Nếu tận dụng tốt các cơ hội hợp tác, doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận thêm nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và mạng lưới đối tác quốc tế. Đây là những yếu tố có ý nghĩa đối với quá trình nâng năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng kết nối với nhà đầu tư, nhà cung cấp công nghệ hoặc đối tác phân phối nước ngoài cũng có thể mở rộng. Tuy nhiên, để thu hút được nguồn lực này, doanh nghiệp cần chứng minh năng lực sản xuất, quản trị rủi ro, tính minh bạch và khả năng đáp ứng các yêu cầu về môi trường, lao động cũng như chất lượng.
Người dân có thể hưởng lợi từ đâu?
Lợi ích của một hiệp định thương mại tự do không chỉ nằm ở kim ngạch xuất nhập khẩu. Khi doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tìm được thị trường mới và thu hút thêm vốn đầu tư, nhu cầu lao động, dịch vụ logistics, vận tải, kho bãi và các hoạt động hỗ trợ sản xuất có thể tăng lên.
Đối với người lao động, cơ hội có thể đến từ việc làm mới, nhu cầu nhân lực có kỹ năng cao hơn và khả năng tiếp cận quy trình sản xuất hiện đại. Mức độ cải thiện thu nhập sẽ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, chất lượng việc làm và khả năng nâng cao kỹ năng của người lao động, chứ không tự động tăng chỉ nhờ hiệp định được ký kết.
Người tiêu dùng cũng có thể hưởng lợi khi thương mại thuận lợi hơn, nguồn cung hàng hóa đa dạng hơn và cạnh tranh trên thị trường được cải thiện. Các mặt hàng nhập khẩu như thiết bị công nghiệp, dược phẩm và sản phẩm công nghệ có thể tạo thêm lựa chọn cho doanh nghiệp và người dân.
Tuy nhiên, việc giá bán giảm hay chất lượng hàng hóa tăng không phải kết quả đương nhiên. Giá đến tay người mua còn chịu ảnh hưởng của thuế thực tế, chi phí vận chuyển, tỷ giá, phân phối và mức độ cạnh tranh. Với các sản phẩm liên quan đến sức khỏe, an toàn và chất lượng, những quy định chuyên ngành vẫn phải được tuân thủ.
Cơ hội đi cùng yêu cầu cao hơn
Thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam là biến ưu đãi thương mại thành lợi thế cạnh tranh bền vững. Các thị trường EFTA đòi hỏi hàng hóa đáp ứng những yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn kỹ thuật và trách nhiệm môi trường.
Do đó, doanh nghiệp cần sớm rà soát danh mục sản phẩm, xác định mức ưu đãi dự kiến, kiểm tra quy tắc xuất xứ và đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện nhập khẩu. Việc đầu tư vào quản trị chất lượng, số hóa hồ sơ, minh bạch chuỗi cung ứng và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao sẽ giúp nâng khả năng cạnh tranh.
Về phía cơ quan quản lý, việc phổ biến cam kết theo từng ngành hàng, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường và hướng dẫn thủ tục chứng nhận xuất xứ sẽ có ý nghĩa thiết thực. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ để tránh bỏ lỡ cơ hội chỉ vì thiếu thông tin hoặc chi phí tuân thủ quá lớn.
Một điểm cần lưu ý là ký kết chưa đồng nghĩa hiệp định lập tức có hiệu lực. Sau lễ ký, các bên còn phải thực hiện những thủ tục cần thiết theo quy định. Doanh nghiệp nên theo dõi thông báo chính thức về thời điểm hiệu lực và lộ trình thực hiện cam kết để xây dựng kế hoạch kinh doanh phù hợp.
VEFTA mở thêm không gian hợp tác giữa Việt Nam và bốn nền kinh tế châu Âu có thế mạnh về công nghệ, tài chính và đổi mới sáng tạo. Giá trị cuối cùng của hiệp định sẽ không chỉ được đo bằng kim ngạch thương mại, mà còn ở khả năng nâng chất lượng sản xuất, mở rộng việc làm và giúp doanh nghiệp Việt Nam đứng vững hơn trong chuỗi giá trị quốc tế.