![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 7/10/2026: Giá lúa tăng, gạo nguyên liệu và phụ phẩm giảm nhẹ |
Giá gạo trong nước
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục giảm so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 giảm 50 đồng/kg, xuống còn 8.700 – 8.750 đồng/kg. Trong khi đó, giá gạo nguyên liệu CL 555 giữ ổn định ở mức 8.750 – 8.800 đồng/kg; giá gạo OM 5451 ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo OM 18 quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 - 9.450 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 dao động quanh mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 - 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 7/10/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo thơm Jasmine ở mức 13.000 - 20.500 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; giá Hương Lài 22.000 đồng/kg; giá gạo thường ở mức 12.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không biến động so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp IR 5625 tươi) ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg…
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 7/10/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm giảm nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm thơm giảm 50 đồng/kg, giao dịch ở mức 8.900 – 9.000 đồng/kg; giá cám giảm 50 đồng/kg, dao động từ 7.550 – 7.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 7/10/2026 |
Giá lúa trong nước
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tăng so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa OM 18 và Đài Thơm 8 cùng tăng 100 đồng/kg, dao động ở mốc 6.200 - 6.300 đồng/kg; giá lúa tươi OM 34 cũng tăng 100 đồng/kg, lên mức 5.800 - 5.900 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 tăng 100 đồng/kg, dao động ở mức 5.900 - 6.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá lúa tươi OM 5451 ổn định ở mức 6.000 - 6.100 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 7/10/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá xuất khẩu gạo trắng 5% tấm của Việt Nam hiện dao động ở mức 420 - 424 USD/tấn, không đổi so với ngày hôm trước. Gạo Jasmine đạt 515 - 519 USD/tấn, còn gạo thơm 5% tấm ở mức 440 - 445 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm được chào bán 455 - 459 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với mức 409 - 413 USD/tấn của Pakistan. Trong khi đó, Ấn Độ chào giá gạo trắng 5% tấm ở mức 382–386 USD/tấn và gạo đồ 5% tấm 381 - 385 USD/tấn.
Thị trường gạo toàn cầu đang cho thấy sự phân hóa rõ hơn về cung – cầu khi giá Indica tiếp tục đi lên, trong khi nhiều phân khúc khác chịu sức ép từ nhu cầu nhập khẩu yếu. Theo FAO, chỉ số giá tất cả các loại gạo (FARPI) tháng 9 đạt 110,5 điểm, tăng 1,4% so với tháng 8 và cao hơn 9,5% so với cùng kỳ năm 2025, đồng thời là mức cao nhất kể từ tháng 1/2026.
Động lực chính đến từ gạo Indica, với chỉ số bình quân 115 điểm, tăng 2,6% trong tháng và 11,9% so với một năm trước. Đây cũng là tháng thứ sáu liên tiếp giá Indica tăng, lên mức cao nhất trong 20 tháng. FAO cho rằng xuất khẩu mạnh của Ấn Độ sang châu Phi, cùng nhu cầu nội địa đối với gạo tấm, đang tạo lực đỡ đáng kể cho giá.
Trái lại, giá tại Việt Nam và Myanmar giảm do sức mua hạn chế. Tại Pakistan, nguồn cung theo mùa thắt chặt khi thu hoạch chậm giúp giá tăng dù đơn hàng mới chưa cải thiện. Thái Lan cũng ghi nhận giá cao hơn tháng trước, nhưng đà tăng suy yếu về cuối tháng do thiếu giao dịch mới và đồng baht giảm giá.
Đáng chú ý, việc Philippines tạm dừng cấp phép nhập khẩu gạo từ Myanmar, Thái Lan và Việt Nam đến giữa tháng 11 có thể tiếp tục tác động đến dòng thương mại khu vực. Diễn biến này cho thấy thị trường gạo đang chịu ảnh hưởng đồng thời từ nhu cầu nhập khẩu, tiến độ thu hoạch, thời tiết và chính sách thương mại.