![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 5/10/2026: Giá lúa gạo trong nước chững nhịp |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá ổn định. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá không đổi.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá đi ngang.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu duy trì ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 ở mức 8.700 – 8.800 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu CL 555 dao động trong khoảng 8.750 – 8.850 đồng/kg; giá gạo OM 5451 ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo OM 18 quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 - 9.450 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 dao động quanh mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 - 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 5/0/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo thơm Jasmine ở mức 13.000 - 20.500 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; giá Hương Lài 22.000 đồng/kg; giá gạo thường ở mức 12.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không đổi so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp IR 5625 tươi) ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg…
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 5/0/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm thơm hiện ở mức 8.900 – 9.050 đồng/kg; giá cám ổn định ở mức 7.500 – 7.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 5/0/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa không còn dồi dào, kéo theo hoạt động mua bán diễn ra chậm. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, khiến giá biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay đi ngang so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi Đài Thơm 8 giao dịch ở mức 6.100 - 6.300 đồng/kg; giá lúa tươi OM 18 ở mức 6.100 - 6.300 đồng/kg; giá lúa tươi OM 5451 dao động ở mức 6.000 - 6.100 đồng/kg; giá lúa tươi OM 34 hiện ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg; giá lúa tươi IR 50404 ở mức 5.800 - 6.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay5/0/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo trắng 5% tấm của Việt Nam tiếp tục được giao dịch ở mức 420 - 424 USD/tấn. Ở phân khúc cao cấp hơn, giá gạo Jasmine đạt 515 - 519 USD/tấn, trong khi gạo thơm 5% tấm ở mức 440 - 445 USD/tấn.
Tại các nước xuất khẩu gạo lớn khác, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan cũng ổn định ở mức 455 - 459 USD/tấn. Giá cùng loại của Pakistan dao động 409 - 413 USD/tấn. Trong khi đó, tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm đứng ở mức 382 - 386 USD/tấn, còn gạo đồ 5% tấm được chào bán với giá 381 - 385 USD/tấn.
Theo Reuters, không chỉ chịu tác động từ thời tiết, thị trường gạo Indonesia còn gặp vấn đề ngay trong khâu phân phối. Giá bán lẻ bình quân tháng 9 đạt kỷ lục 15.769 rupiah/kg, trong khi chênh lệch giữa giá thu mua và giá trần bán lẻ khiến một số nhà bán lẻ phải mua hàng từ nhà phân phối cao hơn mức quy định rồi bán ra với biên lợi nhuận âm.
Theo Roy Mandey, Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Toàn cầu Indonesia, tình trạng này làm giảm động lực tích trữ hàng, góp phần khiến một số siêu thị thiếu các bao gạo cao cấp 5 kg. Ông đề xuất thay cơ chế một mức giá trần bằng khung giá linh hoạt hơn, kết hợp giá sàn cho nông dân và ngưỡng bán lẻ để Chính phủ chủ động đưa dự trữ ra thị trường.
Trong khi đó, Bulog đang nắm khoảng 4,6 triệu tấn gạo dự trữ tính đến giữa tháng 9. Tuy nhiên, lượng hàng này không hoàn toàn sẵn sàng cho kênh thương mại thông thường mà một phần được giữ làm dự phòng chiến lược, phần còn lại phục vụ chương trình hỗ trợ lương thực và bình ổn giá. Chính vì vậy, tồn kho lớn chưa đồng nghĩa nguồn cung thương mại được cải thiện ngay.
Từ tháng 1/2025, Indonesia nâng giá thu mua lúa khô lên 6.500 rupiah/kg, hỗ trợ người trồng nhưng đồng thời làm tăng chi phí xay xát, khiến khoảng cách giữa chi phí đầu vào và giá bán lẻ càng rõ hơn.