Nhìn lại bức kinh tế thế giới năm 2022: Lạm phát, suy thoái và nhiều thách thức

23:43 23/01/2023

Năm 2022, kinh tế thế giới tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức mới. Các thách thức nổi bật trong năm nay gồm: cuộc chiến giữa Nga và Ukraine; sự đứt gãy chuỗi cung ứng và sức mua suy giảm trên phạm vi toàn cầu. Dự báo năm 2023, tăng trưởng kinh tế thế giới nói chung sẽ chứng kiến mức giảm mạnh, với nhiều nền kinh tế phát triển có nguy cơ cao rơi vào suy thoái.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa.

Năm 2022 liên tục chứng kiến kỳ vọng tăng trưởng toàn cầu liên tục giảm, thậm chí viễn cảnh thực tế đến cuối năm và bước sang năm 2023 còn có thể bi quan hơn nữa. Khoảng 1/3 nền kinh tế thế giới phải đối mặt với 2 quý tăng trưởng âm liên tiếp. Hoạt động kinh tế toàn cầu đang trải qua một cuộc suy thoái trên diện rộng và mạnh hơn dự kiến, với lạm phát cao chưa từng thấy trong vài thập kỷ qua. Chi phí sinh hoạt tăng phi mã đi kèm việc thắt chặt các điều kiện tài chính đang diễn ra ở hầu hết các khu vực.

Điều đặc biệt của kinh tế thế giới năm 2022 là các nền kinh tế phát triển đang phải chịu đựng mức lạm phát rất cao, từ đó lan sang các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Lạm phát toàn cầu được dự báo sẽ tăng từ 4,7% vào năm 2021 lên 8,8% vào năm 2022, nhưng sẽ giảm xuống 6,5% vào năm 2023 và 4,1% vào năm 2024. Chính sách tiền tệ chung hiện nay là ưu tiên mục tiêu kiềm chế lạm phát và chính sách tài khóa chung đang theo hướng tìm cách hỗ trợ người dân giảm áp lực chi phí sinh hoạt trong khi vẫn phối hợp chặt chẽ với với chính sách tiền tệ. Các chính phủ đang nỗ lực điều tiết nền kinh tế bằng cách cải thiện năng suất và nới lỏng các hạn chế về nguồn cung. Hoạt động hợp tác đa phương là rất cần thiết để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng xanh và làn sóng phi toàn cầu hóa đang tiến thêm những bước mới. 

Tại EU, tốc độ tăng trưởng đã giảm đáng kể, chủ yếu do xung đột quân sự Nga- Ukraine.  EU là một trong những nền kinh tế dễ bị tổn thương nhất bởi cuộc chiến, do vị trí địa lý và sự phụ thuộc nặng nề - mặc dù đã giảm đi nhiều - vào việc nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch. Nhờ việc đại dịch COVID-19 được kiểm soát, các hoạt động du lịch, ăn uống, vui chơi giải trí đã được thúc đẩy trở lại, thúc đẩy chi tiêu trong khu vực. Tuy nhiên, lạm phát kéo dài đã gây suy giảm sức mua của các hộ gia định tại EU, làm gia tăng tâm lý tiết kiệm và tích trữ. Chi tiêu cao hơn cũng đi kèm với chi phí đi vay ngày một tăng. Vào tháng 7/2022, ECB đã tăng lãi suất lần đầu tiên trong hơn một thập kỷ để chống lại lạm phát phi mã - vốn là một hệ quả từ giá năng lượng tăng cao. Niềm tin cũng sụt giảm trong lĩnh vực kinh doanh, trong bối cảnh chi phí sản xuất cao, tắc nghẽn nguồn cung, điều kiện tài chính thắt chặt và sự không chắc chắn gia tăng khiến nhu cầu mua sắm sụt giảm. Dự báo tỷ lệ lạm phát cả năm 2022 sẽ có thể lên đến 9,3% ở EU và 8,5% ở khu vực Eurozone (EuropeanCommission, 2022). 

Tính đến hết quý 2/2022, tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP ở khu vực Eurozone đạt mức 94,2%. Tại EU, tỷ lệ này cũng giảm từ 87,5% xuống còn 86,4% (Eurostat, 2022). Tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP giảm là do mức tăng GDP đang lớn hơn mức tăng nợ của chính phủ. So với quý II/2021, tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP giảm mạnh hơn ở cả khu vực Eurozone (từ 97,9% xuống 94,2%) và EU (từ 90,5% xuống 86,4%). 

Tại Anh, Bộ trưởng tài chính Jeremy Hunt cho biết nước này đã chính thức rơi vào suy thoái vào ngày 17/11/2022 (Inocencio, 2022). Hunt cho biết kinh tế Anh đã phải chịu tác động lớn từ lạm phát và giá năng lượng tăng vọt trong năm 2022, cùng với việc hỗ trợ tài chính cho Ukraine và sự gián đoạn chuỗi cung ứng do đại dịch COVID-19. Đồng GBP hiện cũng đang được giao dịch ở mức 1,17 GBP đổi 1 USD. Đây cũng là mức tỷ giá thấp nhất trong lịch sử.

Tại Đức, quốc gia này được dự báo sẽ bước vào suy thoái trong những quý tới. Chi phí năng lượng tăng cao là lực cản lớn đối với tăng trưởng thu nhập và sản suất. Việc chi phí đi vay tăng lên cũng đang gây ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư. Lạm phát cũng đang làm giảm sức tiêu dùng của người dân Đức, mặc dù Chính phủ Đức đã có sự hỗ trợ chính sách một phần phí sinh hoạt. GDP được dự báo tăng 1,6% trong năm nay nhưng giảm 0,6% vào năm 2023 trước khi phục hồi 1,4% vào năm 2024 (Gentiloni, 2022).

Chi phí năng lượng tăng cao là lực cản lớn đối với tăng trưởng thu nhập và sản suất.
Chi phí năng lượng tăng cao là lực cản lớn đối với tăng trưởng thu nhập và sản suất.

Ngoài ra, Đức cũng đã thông qua gói hỗ trợ 200 tỷ EUR để trợ giá năng lượng cho người dân hồi cuối tháng tháng 10/2022. Đây là động thái nằm trong phạm vi khả năng của Đức do nước này có mức nợ công trên GDP không quá cao. Tuy nhiên, điều này đang gây lo lắng cho người dân của nhiều quốc gia khác trong EU vì doanh nghiệp Đức có thể nhờ vậy mà có được mức giá hấp dẫn hơn, giúp chiếm lĩnh thị trường các quốc gia khác, đẩy người dân các quốc gia này vào cảnh thất nghiệp.

Khi mùa đông đang đến gần, châu Âu đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu năng lượng, bất chấp các chính phủ vẫn đang cố gắng tăng cường các kho dự trữ cũng như yêu cầu người dân thực hiện các biện pháp tiết kiệm năng lượng bắt buộc. Các hộ gia đình và doanh nghiệp đang phải đối mặt mới hóa đơn năng lượng cao bất chấp nỗ lực kiềm chế lạm phát của các chính phủ. Cùng với niềm tin của người tiêu dùng và doanh nghiệp đi xuống, lãi suất tăng và nhu cầu xuất khẩu toàn cầu giảm đi, nền kinh tế Khu vực Eurozone hiện được dự đoán sẽ tăng trưởng 3,1% vào năm 2022 và giảm đáng kể xuống 0,5% vào năm 2023 (IMF, 2022). 

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, tăng trưởng của nước này được đánh giá sẽ đạt 5,4% trong năm nay và 3% trong năm 2023 (OECD, 2022). Với tốc độ tăng trưởng 7,6% tính đến quý 2/2022, Thổ Nhĩ Kỳ là một trong những quốc gia phát triển nhanh nhất trong OECD. Điều này có được nhờ xuất khẩu của nước này liên tục phá kỷ lục hàng tháng trong năm 2022 và đạt mức cao nhất lịch sử hồi tháng 10 khi đạt con số 253 tỷ USD. Thổ Nhĩ Kỳ hiện là quốc gia phát triển nhanh nhất trong G-20 với mức tăng trưởng GDP là 11,4% vào năm 2021. 

Tại Nga, mặc dù đang chống chịu tương đối tốt hơn 11.000 lệnh trừng phạt và cấm vận của phương Tây, song sang năm 2023, nhiều khả năng kinh tế Nga cũng sẽ chứng kiến đà giảm tốc mạnh. GDP của Nga trong quý III đã giảm 4%, sau khi ghi nhận mức giảm 4,1% trong quý II (Rossat, 2022). Với hai quý GDP giảm liên tiếp, kinh tế Nga đã bước vào suy thoái kỹ thuật. Lần gần nhất Nga trải qua tình trạng này là vào cuối năm 2020 và đầu năm 2021 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Thương mại bán sỉ và bán lẻ Nga trong quý III giảm lần lượt 22,6% và 9,1%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở Nga trong tháng 9 là 3,9%. Như vậy, IMF dự báo tăng trưởng của Nga năm 2022 sẽ ở mức -3,4%.

Dưới loạt lệnh trừng phạt, Nga đang phụ thuộc nhiều hơn vào xuất khẩu năng lượng, chiếm 40% nguồn thu ngân sách liên bang. Lạm phát của Nga trong năm 2022 được WB dự đoán ở mức 22%, trong khi ước tính của IMF và OECD lần lượt là 21,3% và 13,9%.

Tại Nhật Bản, nền kinh tế đã chứng kiến sự sụt giảm tăng trưởng giảm hồi quý 3/2022, lần đầu tiên sau 4 quý liên tiếp. Nguyên nhân chủ yếu do tiêu dùng cá nhân tăng trưởng chậm trước tác động của lạm phát và Nhật Bản phải nhập siêu trong bối cảnh đồng JPY mất giá kỷ lục. Theo Văn phòng nội các Nhật Bản ngày 15/11, tổng sản phẩm GDP nước này đã giảm 0,3% trong quý 3/2022, tương đương mức giảm tăng trưởng kinh tế hằng năm là 1,2%. Đây là mức giảm tăng trưởng khá lớn so với hồi quý 2/2022 là 4,6%. 

. Nhật Bản đang kỳ vọng với gói kích thích kinh tế toàn diện đang được thông qua
Nhật Bản đang kỳ vọng với gói kích thích kinh tế toàn diện đang được thông qua.

Nền kinh tế lớn thứ ba thế giới đã phải vật lộn để phát triển, khi vừa mới dỡ bỏ các biện pháp kiềm chế COVID-19 gần đây, đồng thời phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ lạm phát toàn cầu. Nhật Bản đang kỳ vọng với gói kích thích kinh tế toàn diện đang được thông qua, những trụ cột của nền kinh tế như tiêu dùng, du lịch, đầu tư tư nhân sẽ khôi phục nhanh chóng, mang lại tăng trưởng khả quan hơn trong các quý tiếp theo

Tại Mỹ, tăng trưởng của nền kinh tế lớn nhất thế giới được điều chỉnh dự báo giảm mạnh, xuống chỉ còn 1,6% trong năm 2022 và 1% cho năm 2023. Với mức lạm phát năm 2022 đạt trung bình ~8% thì về cơ bản, Mỹ đang tăng trưởng âm và có nhiều nguy cơ rơi vào suy thoái trong thời gian tới.

Lạm phát của Mỹ năm 2022
Lạm phát của Mỹ năm 2022.

Mặc dù lạm phát tại Mỹ kể từ tháng 6/2022 đến nay đã liên tục giảm, song lãi suất của FED hiện đã lên đến 4% và còn được dự đoán sẽ tiếp tục tăng nhẹ từ nay đến hết năm. FED cũng đã phát tín hiệu hồi tháng 7/2022 rằng họ sẽ tiếp tục tăng lãi suất lên mức "kịch kim" là 4,6% vào năm 2023. Còn trong năm 2022, FED sẽ tiếp tục thực hiện kế hoạch quyết liệt chống lại lạm phát và dự kiến nâng lãi suất lên 4,4%, theo dự báo trung bình được công bố vào ngày 21/9. Từ nay đến hết năm 2022, FED chỉ còn một cuộc họp chính sách, nên rất có thể cơ quan này sẽ tiến đến mức lãi suất mục tiêu trên vào cuối năm nay.

Với mức lãi suất này, trái phiếu của chính phủ Mỹ sẽ buộc phải tăng trên mức 4%, kéo trái phiếu của nhiều quốc gia khác tăng theo để chiều lòng các chủ nợ. Điều này đang và sẽ còn tiếp tục kéo chi phí đi vay của toàn thế giới lên các mức cao hơn nữa trong thời gian tới. 

Tại Trung Quốc, sự bùng phát COVID-19 và phong tỏa ở nhiều địa phương, cũng như cuộc khủng hoảng thị trường bất động sản ngày càng trầm trọng, đã kìm hãm hoạt động kinh tế ở đất nước này, mặc dù tốc độ tăng trưởng dự kiến ​​sẽ tăng lên 4,4% vào năm 2023. Các hoạt động kinh tế lẫn sinh hoạt bình thường của người dân vẫn đang bị gián đoạn do nước này vẫn duy trì chính sách Zero Covid. Các vấn đề trong lĩnh vực bất động sản của Trung Quốc vẫn tiếp tục có tác động tiêu cực lên hệ thống tài chính và đầu tư tại thị trường trong nước, kéo tăng trưởng kinh tế đi xuống. 

Bên cạnh đó, sự gia tăng các ca nhiễm COVID-19 mới trong tháng 7 và tháng 8/2022 đang tiếp tục làm giảm sức tiêu thụ của thị trường cũng như sức chống chịu của doanh nghiệp. Trước nguy cơ bùng phát các đợt dịch mới, cùng thị trường bất động sản gần như đóng bằng và tăng trưởng toàn cầu chậm lại đang khiến sự phục hồi kinh tế của Trung Quốc bị suy yếu trong ngắn hạn. Vaccine mRNA và thuốc kháng COVID-19 dự kiến sẽ được phân phối rộng rãi vào năm 2023, được kỳ vọng sẽ giúp nới lỏng các biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội. Thị trường bất động sản Trung Quốc cũng đang được kỳ vọng sẽ nhận được sự hỗ trợ về chính sách và nguồn vốn trong những tháng cuối năm. 

Đồng CNY của Trung Quốc cũng đang mất giá mạnh. Ngày 16/9/2022, lần đầu tiên kể từ tháng 7/2020, cần hơn 7 CNY đổi 1 USD. Đồng CNY trong năm nay cũng đã giảm gần 9% so với USD.

Tóm lại, trong năm 2022, kinh tế thế giới đang phải chịu áp lực mạnh mẽ từ cuộc chiến tại Ukraine, khủng hoảng chi phí sinh hoạt do áp lực lạm phát kéo dài và sự suy thoái ở Trung Quốc.

Trải qua hơn 10 tháng giao tranh, cuộc chiến vẫn đang leo thang và sẽ tiếp tục gây bất ổn mạnh mẽ cho nền kinh tế toàn cầu. Chiến sự và các gói trừng phạt  Nga từ Mỹ và EU đã và đang dẫn đến một cuộc khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng ở châu Âu, làm tăng mạnh chi phí sinh hoạt và cản trở hoạt động kinh tế. Giá khí đốt ở châu Âu đã tăng hơn bốn lần kể từ năm 2021, với việc Nga đã cắt giảm lượng khí đốt xuống dưới 20% so với năm 2021, làm tăng khả năng thiếu năng lượng trong mùa đông đang đến. Cuộc khủng hoảng hiện nay cũng đang cho thấy sự chia cắt lâu dài của phương Tây với nguồn dầu mỏ và khí đốt của Nga. Điều này sẽ chỉ có thể thực sự khả thi khi các nước EU xây dựng xong các cảng biển có thể tiếp nhận và xử lý LNG giúp giảm chi phí nhập khẩu. Sẽ mất khoảng 3 năm nữa để điều này trở thành hiện thực, và việc các nước EU phải nhập giá năng lượng cao sẽ còn tiếp diễn trong thời gian tới. Nhìn rộng hơn, cuộc xung đột cũng đã đẩy giá lương thực trên thị trường thế giới lên cao, bất chấp sự nới lỏng gần đây sau thỏa thuận ngũ cốc ở Biển Đen, gây khó khăn nghiêm trọng cho các hộ gia đình có thu nhập thấp trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước có thu nhập thấp. 

Hiện nay, tại Trung Quốc, việc thường xuyên phong tỏa theo chính sách Zero-COVID đã gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế, đặc biệt là trong quý 2/2022. Lĩnh vực bất động sản, chiếm khoảng 1/5 nền kinh tế của Trung Quốc, vẫn đang suy yếu kể từ cuộc khủng hoảng Evergrande năm 2021. Với quy mô kinh tế và tầm quan trọng của Trung Quốc đối với chuỗi cung ứng, đây đang là tổn thất lớn nhất đối với tăng trưởng và thương mại toàn cầu. 

Nhiều nền kinh tế mới nổi và đang phát triển cũng đang chứng kiến thách thức gia tăng do đồng USD tăng giá đang đè nặng lên chi phí sinh hoạt của người dân. Việc dòng vốn chưa hồi phục cũng đang khiến các quốc gia này chìm trong nợ nần. Áp lực lạm phát vẫn là mối đe dọa trực tiếp nhất đối với đa số các quốc gia hiện nay. Áp lực này vừa làm giảm thu nhập của quốc gia, vừa gây bất ổn kinh tế vĩ mô và các NHTW hiện nay đều đang lựa chọn ưu tiên kiềm chế lạm phát hơn các mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng. Điều này cũng lại mang đến những rủi ro về bất ổn xã hội trong điều kiện tài chính thắt chặt, làm xói mòn niềm tin của người dân và có nguy cơ đẩy nền kinh tế toàn cầu vào một cuộc suy thoái mới. Việc xây dựng chính sách tài khóa giúp hỗ trợ chi phí sinh hoạt, năng lượng và lương thực đang trở thành mục tiêu cấp bách mà các quốc gia phải giải quyết, mặc dù không gian tài khóa đang bị thu hẹp. Các quốc gia có nợ công thấp, dự trữ ngoại hối và kiều hối cao sẽ có khả năng bảo vệ các doanh nghiệp và các hộ gia đình tốt hơn.

Trí Nguyễn