Thứ ba 20/10/2026 06:05
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Vì đâu lợi ích từ CPTPP nằm trên giấy?

12/10/2020 00:00
Sau 8 tháng có hiệu lực, những cơ hội to lớn từ Hiệp định CPTPP vẫn chưa trở thành hiện thực đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng không thể không đề cập tới những bất cập về thủ tục pháp lý mà doanh nghiệp gặp phải.

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 14/1/2019. Doanh nghiệp (DN) Việt Nam khi xuất khẩu (XK) hàng hóa sang thị trường các nước thành viên Hiệp định sẽ được hưởng cam kết cắt giảm thuế quan rất ưu đãi. Theo nghiên cứu chính thức của Bộ KH&ĐT, XK của Việt Nam có thể sẽ tăng thêm 4,04% đến năm 2035.

Tận dụng cơ hội chỉ đạt 3 – 4%

Tuy nhiên, tại Diễn đàn “Thuận lợi và khó khăn đối với Việt Nam khi thực hiện Hiệp định CPTPP”, ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), cho biết tỷ lệ tận dụng ưu đãi để XK từ CPTPP trên thực tế còn rất thấp.

Đơn cử, hàng xuất theo mẫu CPTPP chỉ đạt 190 triệu USD trong tổng số 16.400 triệu USD hàng hóa XK, tương ứng với việc chỉ tận dụng được 1,17%. Hầu hết các ngành đều không tận dụng được lợi ích từ CPTPP. Hai ngành tận dụng được nhiều nhất là giày dép và thép cũng chỉ trên dưới 10%, còn lại các ngành thuỷ sản, hạt điều, hồ tiêu, may mặc… chỉ tận dụng được 3 – 4%.

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tiến hành khảo sát 8.600 DN về sự quan tâm với CPTPP. Kết quả cho thấy 26% DN có tìm hiểu, nhưng vẫn có tới hơn 70% DN chưa rõ về CPTPP.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập (VCCI), cản trở lớn nhất được các DN đưa ra là 84% DN thiếu thông tin về cam kết và cách thức thực hiện; 81,48% DN gặp bất cập trong tổ chức thực thi của cơ quan nhà nước; tiếp theo là những vấn đề về năng lực cạnh tranh thấp hay quy tắc xuất xứ quá khó…

Hàng xuất theo mẫu CPTPP chỉ đạt 1,17% tổng kim ngạch XK

Theo ông Ngô Chung Khanh, kể từ khi CPTPP có hiệu lực, số lượng câu hỏi, sự quan tâm của DN mới chỉ dừng ở 12 câu hỏi gửi tới Bộ Công Thương, còn quá khiêm tốn so với cộng đồng DN đông đảo của Việt Nam. Mặt khác, thời gian đầu khi CPTPP có hiệu lực, rất nhiều thông tin được đưa ra, các hội thảo cũng được tổ chức nhiều nhưng đến nay lại không có. Vì vậy, cần đổi mới và tăng cường trước hết việc tuyên truyền về Hiệp định.

Với các cơ quan nhà nước, sự chủ động cũng chưa cao, các kế hoạch hành động của các bộ, ngành địa phương đều chậm nửa năm so với yêu cầu. Các đầu mối thông tin, phổ biến tuyên truyền về CPTPP cho cán bộ nhà nước, DN cũng chậm. Hành trình cải thiện năng lực cạnh tranh của DN còn nhiều chông gai do chính sách thuế, thủ tục hải quan còn nhiều bất cập.

Đại diện CTCP Dệt may đầu tư thương mại Thành Công chia sẻ về nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện quy định của CPTPP. Trong đó, DN này đã đáp ứng được quy tắc xuất xứ từ sợi và đang XK hàng hóa sang thị trường Canada, nhưng vẫn chưa được hưởng ưu đãi thuế quan.

Ông Lê Tiến Trường, Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt may, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), cho hay lâu nay khi phổ biến thông tin về CPTPP, chúng ta luôn nói ngành dệt may phải chấp nhận quy tắc xuất xứ cao là từ sợi mới được hưởng ưu đãi thuế quan (quy trình sản xuất dệt may bắt đầu từ bông hoặc sợi sang kéo sợi, dệt vải, nhuộm, dệt may). Chúng ta chấp nhận quy tắc từ sợi trở đi là quy tắc rất cao, cao nhất trong chuỗi cung ứng dệt may. CTCP Thành Công sở hữu chuỗi cung ứng đầy đủ, chỉ mua bông của Mỹ và các nước Tây Phi, dẫn tới khi làm với Cục Xuất nhập khẩu để xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) thì được trả lời là chỉ cấp xuất xứ từ bông chứ không thể từ sợi.

Trong khi đó, quan điểm của VITAS là sản phẩm dệt may chỉ cần đáp ứng quy tắc xuất xứ từ sợi là được hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất sang thị trường CPTPP.

“Cá nhân tôi nghĩ có thể ở một góc độ nào đó, lời văn trong Hiệp định CPTPP chưa tường minh, tuy nhiên khi chưa tường minh thì chúng ta cũng nên xử lý theo hướng bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho DN. Sau này, nếu bất cứ quốc gia nào trong khối CPTPP khiếu nại, chúng ta có quyền đàm phán song phương với họ. Không việc gì phải chọn phương án xấu nhất cho cộng đồng DN Việt Nam”, ông Trường nói.

Vướng quy tắc xuất xứ

Theo Phó Chủ tịch VITAS, lời văn về quy tắc xuất xứ của ngành dệt may trong CPTPP không mới so với nội dung tại các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà trước đây Mỹ áp dụng cho các nước ở Trung Mỹ và Caribe. VITAS đã tìm hiểu đầy đủ cách thức trả lời của Hải quan Mỹ với các DN của họ, đó là tất cả sản phẩm dệt may được hưởng ưu đãi khi đáp ứng quy tắc xuất xứ từ sợi, không ai hiểu là xuất xứ từ bông.

“Đây là điểm đang nằm trong tay cơ quan quản lý nhà nước là cấp C/O hay không cấp C/O nhưng đối với DN là hết sức gay cấn. Nếu giải thích như thế có nghĩa những thứ đang nói xuất xứ từ sợi thì không phải là sợi mà phải là bông, nếu từ bông thì trong khối CPTPP không ai có bông, ngoài nước Úc có bông dài cao cấp nhưng Việt Nam phải nhập khẩu giá cao. Hay nói cách khác, nếu tiếp cận như thế, toàn bộ hệ thống hàng hóa dệt may, kể cả sau này có đầu tư làm vải cũng không được hưởng ưu đãi. Đây là vấn đề không nhỏ với dệt may”, ông Trường nói.

Trước thực tế trên, ông Trường kiến nghị cơ quan chức năng về lâu dài nên tính đến phương án cho phép DN tự chứng nhận xuất xứ. Nếu cơ quan quản lý muốn an tâm thì có thể tổ chức các lớp tập huấn, sau đó cấp giấy phép cho các DN có nhân lực đủ điều kiện để tự chứng nhận xuất xứ. Như vậy vừa giảm tải được công việc của cơ quan quản lý nhà nước, mà DN lại có nhiều cơ hội để kinh doanh.

Về vấn đề này, Ts. Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), bày tỏ quan điểm đồng tình, song cho rằng các DN nên đi học để tự chứng nhận xuất xứ, tránh tình trạng như trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN cho phép DN tự chứng nhận xuất xứ nhưng số DN làm được chỉ đếm “trên đầu ngón tay”.

Theo ông Thành, đã đến lúc DN phải thay đổi để có sự tự tin, hiểu thấu đáo tham gia cuộc chơi của các FTA với các nước, các thị trường lớn. DN cần tìm cơ hội kinh doanh, thông tin từ thị trường. Ngoài ra, DN cũng cần đồng hành với Chính phủ để phản ánh những bấp cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính.

Đại diện cộng đồng DN, bà Nguyễn Thị Thu Trang đề xuất Nhà nước cần thực hiện đúng, quyết liệt, hiệu quả, tiếp thu nghiên cứu các đề xuất, kiến nghị của DN. Còn với DN, cần chủ động nắm thông tin, tìm hiểu về cơ hội và tận dụng CPTPP; đồng thời chủ động phản ánh các yêu cầu, những khó khăn gặp phải trong thực tiễn để cùng nhau giải quyết.

Ông Ngô Chung Khanh - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên Cần sự vào cuộc chủ động quyết liệt hơn của các DN, bộ, ngành và địa phương để thúc đẩy thực thi nghiêm túc CPTPP. Không thể chỉ làm với tính chất đối phó như thời gian qua. ải cách thể chế lớn nhất sau WTO nhưng sau 8 tháng, tôi chưa nhìn thấy nhiều cải cách để thúc đẩy CPTPP.

Lê Thúy

Tin bài khác
Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi: Cơ hội bứt phá từ cơ chế đặc thù

Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi: Cơ hội bứt phá từ cơ chế đặc thù

Bộ Chính trị đồng ý chủ trương cho Khu kinh tế Dung Quất áp dụng các cơ chế, chính sách đang được áp dụng đối với khu thương mại tự do tại Hải Phòng, Đà Nẵng và các cơ chế, chính sách ưu đãi cao nhất theo quy định được nêu trong chủ trương.
Đà Nẵng đầu tư 3.525 tỷ đồng phát triển khu sản xuất và logistics

Đà Nẵng đầu tư 3.525 tỷ đồng phát triển khu sản xuất và logistics

Dự án hạ tầng 3.525 tỷ đồng tại vị trí số 7 bổ sung một mắt xích vào Khu thương mại tự do Đà Nẵng. Tiềm năng thu hút đầu tư sẽ phụ thuộc tiến độ hạ tầng, kết nối logistics và khả năng lấp đầy bằng các dự án có giá trị gia tăng cao.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Hoàn thiện Luật Đấu giá tài sản để kiểm soát giá nhà ở xã hội

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Hoàn thiện Luật Đấu giá tài sản để kiểm soát giá nhà ở xã hội

Thảo luận về dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) sáng 19/10, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu đồng bộ quy định về đấu giá với pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và đấu thầu. Việc hoàn thiện luật không chỉ nhằm chuẩn hóa trình tự, thủ tục đấu giá mà còn góp phần quản lý, điều tiết giá nhà ở xã hội và nhà cho thuê, tạo điều kiện để người thu nhập thấp tiếp cận nhà ở.
Thủ tướng kiên định kiểm soát lạm phát để bảo vệ thành quả tăng trưởng

Thủ tướng kiên định kiểm soát lạm phát để bảo vệ thành quả tăng trưởng

Thủ tướng Chính Lê Minh Hưng nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế phải đi cùng ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Đây là nền tảng để bảo đảm thành quả phát triển không bị bào mòn bởi giá cả tăng cao.
Việt Nam - Thụy Sĩ thúc đẩy hợp tác công nghệ sau lễ ký VEFTA

Việt Nam - Thụy Sĩ thúc đẩy hợp tác công nghệ sau lễ ký VEFTA

Sau lễ ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EFTA (VEFTA), hợp tác Việt Nam – Thụy Sĩ đứng trước cơ hội mở rộng sang những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao. Trọng tâm tiếp theo là kết nối doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu và các trung tâm đổi mới sáng tạo để chuyển định hướng hợp tác thành dự án, công nghệ và năng lực sản xuất cụ thể.
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú: Chỉ nên tăng giá điện khi phát sinh chi phí

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú: Chỉ nên tăng giá điện khi phát sinh chi phí

Nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát lạm phát dưới 4,5%, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đề nghị rà soát, điều hành giá các mặt hàng thiết yếu, trong đó giá điện cần được nghiên cứu theo hướng giảm, chỉ xem xét tăng khi chi phí đầu vào phát sinh.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Kiểm soát giá cả, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Kiểm soát giá cả, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp

Tại phiên thảo luận tổ ngày 18/10, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu chủ động kiểm soát giá các mặt hàng thiết yếu, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời nghiên cứu giải pháp giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn, phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Việt Nam và Iceland tăng tốc triển khai FTA với EFTA

Việt Nam và Iceland tăng tốc triển khai FTA với EFTA

Việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA mở thêm dư địa hợp tác giữa Việt Nam và Iceland, nhất là trong thương mại, đầu tư và năng lượng. Hai nước nhất trí tăng cường phối hợp, thúc đẩy các thủ tục cần thiết để sớm đưa Hiệp định vào thực tiễn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp khai thác hiệu quả những cơ hội mới.
Hiệp định Việt Nam - EFTA mở thêm dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

Hiệp định Việt Nam - EFTA mở thêm dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

Sự kiện Việt Nam ký Hiệp định Thương mại tự do với Hiệp hội Mậu dịch Tự do châu Âu (EFTA) là dấu mốc quan trọng, mở thêm cánh cửa tiếp cận các thị trường có sức mua cao, đồng thời tạo cơ hội thu hút vốn, công nghệ và mở rộng cơ hội việc làm. Hiệu quả thực tế sẽ phụ thuộc vào khả năng tận dụng ưu đãi và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2026 ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD. Kết quả này cùng đà tăng trưởng kinh tế và dòng vốn đầu tư nước ngoài cho thấy quy mô thương mại tiếp tục mở rộng, song cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng giá trị hàng hóa và củng cố sức chống chịu của doanh nghiệp.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Trước áp lực chi phí vốn còn cao, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẩn trương triển khai các giải pháp thực chất nhằm giảm lãi suất cho vay từ 1,5 - 2% đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên; đồng thời tăng cường kiểm soát, xử lý tình trạng sở hữu chéo, sở hữu ngầm và thao túng hoạt động ngân hàng.
Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Dù có lợi thế về nông nghiệp, thủy sản và xuất khẩu, doanh nghiệp đầu tàu Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá vì vướng vốn, lãi suất, chính sách và hạn chế công nghệ. Tăng cường liên kết vùng, cải thiện môi trường đầu tư và tháo gỡ điểm nghẽn thực thi là những yêu cầu cấp thiết.
Khơi thông nguồn vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%

Khơi thông nguồn vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2027 đặt ra yêu cầu cao hơn đối với khả năng huy động và sử dụng nguồn lực của nền kinh tế. Kết luận số 106-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh việc phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ, cải thiện môi trường đầu tư và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển. Đây là những định hướng quan trọng nhằm chuyển mục tiêu tăng trưởng thành kết quả thực chất.
Điều hành giá cuối năm 2026: Chủ động nguồn cung, kiểm soát lạm phát

Điều hành giá cuối năm 2026: Chủ động nguồn cung, kiểm soát lạm phát

Công điện số 70/CĐ-TTg ngày 15/10/2026 yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tăng cường quản lý, điều hành giá, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, phấn đấu kiểm soát CPI bình quân năm 2026 tăng khoảng 4,5%.
TP. Hồ Chí Minh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số

TP. Hồ Chí Minh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số

GRDP tăng 9,06% trong 9 tháng đầu năm 2026, thu hút 17,8 tỷ USD vốn FDI và giải ngân đầu tư công đạt 75,5% kế hoạch, TP. Hồ Chí Minh đang tăng tốc để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cả năm. Tuy nhiên, với yêu cầu GRDP quý IV tăng 13,23%, thành phố cần tiếp tục khơi thông nguồn lực, tháo gỡ vướng mắc dự án và thúc đẩy đầu tư công lẫn tư nhân.