Minh bạch việc sử dụng tác quyền

Văn hóa doanh nhân | 08:44:00 28/03/2020

Trên thế giới, các công ty được nhạc sĩ ủy quyền bảo vệ tác quyền thường sử dụng giải pháp tích hợp những công cụ kiểm soát bản quyền nội dung số (DRM) để bảo vệ sở hữu trí tuệ.


Từ offline tới streaming

Gần đây, ngành công nghiệp âm nhạc chứng kiến sự thay đổi phương thức phát hành từ ghi bản nhạc lên đĩa cứng, tới phát hành online và đến nay là streaming. Khi phương thức phân phối thay đổi thì cơ chế quản lý bản quyền âm nhạc, quyền sáng tạo của các nhạc sĩ nói riêng cũng cần phải thay đổi cho phù hợp.

Suốt nhiều thập kỷ, ngành âm nhạc giải trí phát hành bản ghi trên băng từ, đĩa cứng (đĩa than), sang đĩa CD, DVD và tiến đến nghe nhạc qua các thiết bị số iPod, thẻ nhớ USB.

Khi Internet phát triển dịch vụ nghe nhạc trực tuyến, người sử dụng có thể nghe nhạc, tải xuống ở bất cứ thiết bị kết nối nào. Lúc này, thị trường đĩa nhạc bị thu hẹp cả về số lượng đĩa phát hành lẫn doanh thu. Tại Việt Nam, theo thống kê của Nielsen, năm 2017, trong 52 triệu người Việt dùng Internet thì có tới 25 triệu người nghe nhạc online.

Đến khi mạng xã hội phát triển, cùng với các dịch vụ phát trực tuyến (live stream) ra đời thì thị trường nghe nhạc trực tuyến lại có thêm một bước ngoặt, khi cung cấp tính năng để những đơn vị cung cấp nội dung chủ động phát video ca nhạc, hay livestreaming chương trình biểu diễn, mà không phải phụ thuộc vào các công ty nhạc số hay truyền hình nữa.

Bản quyền âm nhạc giữa offline và online

Trong một thời gian dài, ngành kinh doanh âm nhạc có doanh thu ổn định từ việc sản xuất băng đĩa. Doanh thu từ dịch vụ bán đĩa, cho thuê đĩa được phân phối cho tất cả đối tượng tham gia vào quy trình sản xuất băng đĩa, từ sản xuất đĩa, nhà sản xuất nội dung, ghi đĩa, phân phối đĩa, đơn vị sở hữu tác quyền (quyền sáng tác của nhạc sĩ). Vào thời kỳ này, nhạc sĩ thỏa thuận về tiền tác quyền với  nhà phát hành đĩa nhạc, thường là nhạc sĩ chỉ được chi trả một phần rất nhỏ trong tổng doanh thu. Tiền tác quyền được các công ty sản xuất đĩa nhạc chi trả trọn gói, hoặc tính theo phần trăm trên doanh thu bán đĩa, nhưng các nhạc sĩ thường không nhận được sự rõ ràng, minh bạch về số tiền thu được từ bán đĩa. 

Chỉ khi nào bản quyền âm nhạc được bảo vệ trên môi trường trực tuyến thì việc sử dụng tác phẩm không cần trả phí do vi phạm bản quyền mới được kiểm soát. Giá trị sáng tạo của các nhạc sĩ mới được ghi nhận rõ ràng, đồng thời là cơ sở để tạo ra hệ sinh thái âm nhạc lành mạnh.

Vào thời kỳ mà băng đĩa chiếm lĩnh thị trường giải trí thì tình trạng vi phạm bản quyền diễn ra khá nghiêm trọng. Đĩa lậu tồn tại trên thị trường không chỉ gây thiệt hại rất lớn cho ngành kinh doanh âm nhạc, mà còn gây thiệt hại cho cả giới nhạc sĩ. 

Điểm khác biệt lớn nhất của loại hình kinh doanh âm nhạc trực tuyến và kinh doanh băng đĩa là một số khâu trong sản xuất đĩa (ghi đĩa) và phân phối (bài hát, hay bản nhạc) không còn tồn tại nữa bởi tính không biên giới trong lưu trữ và phân phối online. Tham gia vào chuỗi kinh doanh gần như chỉ còn có khâu sản xuất nội dung, phân phối nội dung trực tuyến.Từ năm 2008 tới nay, các công ty băng đĩa ngày càng bị thu hẹp thị phần, nhường chỗ cho dịch vụ nghe nhạc trực tuyến. Ban đầu, hầu hết các trang nghe nhạc trực tuyến đều sử dụng “chùa” các tác phẩm âm nhạc. Tình trạng này kéo dài nhiều năm, vi phạm bản quyền nghiêm trọng. 

Một điều quan trọng nữa là, trên nền tảng âm nhạc trực tuyến, người sử dụng sẽ khó phân biệt được đâu là tác phẩm có bản quyền, đâu là tác phẩm lậu (vi phạm bản quyền). Khâu phân phối vật lý cũng không còn, nên việc kiểm soát nguồn doanh thu của sản phẩm, hàng hóa theo phương thức cũ cũng khó có thể áp dụng. 

Công cụ DRM 

Trong kỷ nguyên số hóa, bản quyền âm nhạc nói riêng và bản quyền sáng tạo tác phẩm nghệ thuật nói chung trở thành tài sản có giá trị trọn đời. Vấn đề là việc xuất bản tác phẩm và sử dụng tác phẩm phải được kiểm soát, bản quyền của bản nhạc trên môi trường số phải được bảo vệ. Đây cũng là điều mà những nhạc sĩ, nghệ sĩ, những người làm âm nhạc Việt Nam mong mỏi bấy lâu nay.

Để minh bạch hóa, các công ty cung cấp nội dung thường tích hợp những công cụ để kiểm soát bản quyền nội dung số (DRM). Ví dụ, Apple phát triển công cụ bản quyền cho phép người dùng mua và tải bài hát về nghe qua iTunes, nhưng không sao chép được. Chính điều này khiến doanh thu mảng phát hành âm nhạc trên hệ thống của Apple đạt 3 tỷ USD trong năm 2018 và có tốc độ tăng trưởng doanh thu hằng năm 40%.

Việc ứng dụng DRM vào kiểm soát bản quyền trên môi trường số nói chung và âm nhạc trực tuyến nói riêng là công cụ không thể thiếu để chống sao chép, sử dụng tác phẩm trái phép. Bên cạnh đó, công cụ DRM cho phép đo đếm số lần sử dụng, tải xuống một cách rõ ràng và minh bạch. Từ đó giúp các nhà sở hữu tác phẩm nắm rõ được số liệu về lượt sử dụng, giúp họ hiểu rõ được tác phẩm được sử dụng trên những nền tảng nào, fan là ai, đến từ đâu để từ đó hiểu được thị hiếu âm nhạc và có kế hoạch phát triển tác phẩm mới.

Sự bùng nổ của thị trường nhạc số, cùng với xu hướng phát trực tuyến đã giúp không ít nghệ sĩ nổi tiếng toàn cầu trong chớp mắt, khi mà bài hát hay album đạt triệu view trong vài ngày, mang lại cho họ khoản doanh thu lâu dài. Song đây cũng là những thử thách rất lớn đối với các nhạc sĩ nếu như tác phẩm âm nhạc không có được một “chìa khóa” bảo vệ bản quyền hữu hiệu. Để bảo vệ bản quyền tác phẩm, cách tốt nhất là nhạc sĩ phải dựa vào một công ty công nghệ sở hữu giải pháp DRM đạt chuẩn quốc tế. 

Minh Hiền

Theo: doanhnhansaigon.vn