Thứ hai 12/10/2026 15:36
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Sửa đổi biểu thuế xuất nhập nhẩu, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

22/11/2021 10:26
Nghị định số 101/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP và Nghị định số 57/2020/NĐ-CP được ban hành nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất,

Kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong nước trước ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19.(Ảnh minh họa)

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 101/2021/NĐ-CP ngày 15/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ và Nghị định số 57/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan.

Việc ban hành 101/2021/NĐ-CP nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong nước trước ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19. Đồng thời, bảo vệ và khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nước, khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao; khuyến khích doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, đổi mới công nghệ, giảm giá thành sản phẩm để tăng cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu; và đảm bảo đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế.

Các nội dung được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 101/2021/NĐ-CP tập trung vào 4 nhóm sau:

Thứ nhất, điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế nhập khẩu tối huệ quốc (MFN) của một số nhóm mặt hàng để góp phần phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát theo yêu cầu của Chính phủ tại Nghị quyết số 63/NQ-CP và Nghị quyết số 58/NQ-CP. Cụ thể, tại Nghị định số 101/2021/NĐ-CP đã điều chỉnh giảm thuế suất thuế nhập khẩu MFN đối với một số mặt hàng như: thép, lúa mỳ, ngô,... Đây là những nhóm mặt hàng có giá cả tăng cao trong giai đoạn vừa qua, tác động đến chi phí đầu vào của nhiều ngành sản xuất trong nước. Cụ thể, để góp phần hạ giá thép trong nước, thúc đẩy các doanh nghiệp giảm chi phí, qua rà soát các Biểu thuế nhập khẩu MFN và hiện trạng phát triển của ngành thép hiện nay, tại Nghị định số 101/2021/NĐ-CP, Chính phủ đã điều chỉnh giảm thuế suất thuế nhập khẩu MFN của một số sản phẩm thép xây dựng, thép tấm với mức giảm thuế suất từ 5% đến 10%; giảm mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN của lúa mì từ 3% xuống 0% và mặt hàng ngô từ 5% xuống 2% để hỗ trợ cho ngành chăn nuôi trong nước trước sức ép của việc tăng giá nguyên liệu...

Thứ hai, sửa đổi thuế suất thuế xuất khẩu và thuế suất thuế nhập khẩu MFN đối với một số mặt hàng để bảo vệ, thúc đẩy khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nước, hạn chế việc xuất khẩu tài nguyên thô, chưa qua chế biến và góp phần đơn giản biểu thuế, hạn chế gian lận thương mại.

Tại Nghị định số 101/2021/NĐ-CP, căn cứ khung thuế suất được Quốc hội quy định tại Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Chính phủ đã điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng tài nguyên khoáng sản như đá, clanhke. Tuy nhiên, để hạn chế các tác động đối với các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho cho doanh nghiệp có thời gian hợp lý điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh và xử lý hàng tồn kho, việc điều chỉnh được thực hiện theo lộ trình, trong đó đối với các mặt hàng đá và sản phẩm làm từ đá được thực hiện theo lộ trình 3 giai đoạn theo 3 năm (2022-2024) và mức tăng thuế suất của mỗi lần điều chỉnh không quá 5%.

Thứ ba, sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung của Chương trình ưu đãi thuế để sản xuất, lắp ráp xe ô tô trong nước được quy định tại Nghị định số 125/2017/NĐ-CP và Nghị định số 57/2020/NĐ-CP. Theo quy định hiện hành, Chương trình ưu đãi thuế để sản xuất, lắp ráp ô tô được áp dụng kể từ ngày 16/11/2017 đến ngày 31/12/2022. Đây là Chương trình lần đầu được áp dụng ở Việt Nam, phù hợp với các cam kết quốc tế. Việc triển khai Chương trình đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025; thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô đầu tư mở rộng sản xuất, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa và phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) trong nước. Tuy nhiên, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước đang phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của ô tô nhập khẩu trong bối cảnh cắt giảm hàng rào thuế quan theo các Hiệp định FTA. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, nhiều lĩnh vực phải ngừng hoạt động trong thời gian dài, trong đó lĩnh vực vận tải, vận chuyển hành khách công cộng gần như đình trệ cùng với thu nhập của người dân giảm sút đã làm cho doanh số bán ra của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước sụt giảm mạnh, nhất là dòng xe ô tô buýt, minibuýt và xe khách.

Theo đó, để tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất, thúc đẩy phát triển ngành CNHT ô tô trong nước, Nghị định số 101/2021/NĐ-CP đã điều chỉnh một số nội dung của Chương trình ưu đãi thuế đối với sản xuất, lắp ráp ô tô, trong đó đã sửa đổi, bổ sung quy định về kỳ xét ưu đãi thuế (Doanh nghiệp được lựa chọn kỳ xét ưu đãi thuế 6 tháng hoặc 12 tháng); điều chỉnh điều kiện về sản lượng để tham gia Chương trình ưu đãi thuế cho phù hợp với bối cảnh mới. Đặc biệt, trên cơ sở các kết quả đạt được từ việc thực hiện Chương trình giai đoạn vừa qua, tại Nghị định số 101/2021/NĐ-CP, Chính phủ đã quyết định kéo dài thời gian thực hiện Chương trình này đến 31/12/2027 để các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô chủ động xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh trong các năm tiếp theo. Qua đó, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp ô tô trong nước phát triển theo định hướng của Đảng và Nhà nước.

Thứ tư, điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu, thuế suất thuế nhập khẩu MFN đối với một số mặt hàng nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý, khắc phục các bất cập phát sinh trên thực tiễn. Cụ thể, để khắc phục các bất cập phát sinh trên thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp; thúc đẩy xuất khẩu phát triển, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19; đồng thời để đảm bảo đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, tại Nghị định số 101/2021/NĐ-CP đã điều chỉnh sửa đổi, một số nội dung tại Nghị định số 57/2020/NĐ-CP như: điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu MFN đối với một số mặt hàng hạt giống dùng để gieo trồng, lốp chuyên dùng cho khai thác than hầm lò, điều chỉnh điều kiện áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu MFN 10% đối với mặt hàng gel làm giảm sẹo.... Cùng với đó, đã thực hiện rà soát để quy định mức thuế suất như nhau đối với những mặt hàng đang có mức thuế suất chênh lệch nhưng thiếu các tiêu chí cụ thể để phân loại, áp mã, qua đó góp phần đơn giản hóa biểu thuế, giảm chi phí giám định cho các doanh nghiệp và hướng tới mục tiêu hạn chế gian lận thương mại.

PV

Tin bài khác
Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Siết quản lý vốn viện trợ nước ngoài, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Siết quản lý vốn viện trợ nước ngoài, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 140/2026/TT-BTC siết quản lý nguồn viện trợ không hoàn lại nước ngoài thuộc ngân sách nhà nước, từ lập dự toán đến kiểm tra quyết toán. Quy định đặt ra yêu cầu minh bạch, kiểm soát nguồn lực và cảnh báo rủi ro thanh toán với doanh nghiệp tham gia dự án.
Nghị định 371/2026/NĐ-CP (Kỳ 1): Mở rộng quyền tuyển dụng, doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh nhân lực

Nghị định 371/2026/NĐ-CP (Kỳ 1): Mở rộng quyền tuyển dụng, doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh nhân lực

Nghị định 371/2026/NĐ-CP mở rộng quyền tuyển dụng trực tiếp lao động Việt Nam cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc diện áp dụng. Cơ chế mới tăng tính chủ động, minh bạch thông tin, đồng thời đặt doanh nghiệp nhỏ và vừa trước sức ép cạnh tranh nhân lực.
Thông tư 138/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Minh bạch thông tin, doanh nghiệp đối diện yêu cầu mới về huy động vốn

Thông tư 138/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Minh bạch thông tin, doanh nghiệp đối diện yêu cầu mới về huy động vốn

Thông tư 138/2026/TT-BTC đặt ra yêu cầu minh bạch thông tin trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ. Từ dữ liệu tài chính đến trách nhiệm công bố, doanh nghiệp phải chuẩn hóa quản trị, kiểm soát rủi ro pháp lý và củng cố niềm tin nhà đầu tư.
Thông tư 134/2026/TT-BTC: Đấu thầu bước vào thời kỳ “có dấu vết” – kiểm tra, giám sát và báo cáo trở thành dữ liệu

Thông tư 134/2026/TT-BTC: Đấu thầu bước vào thời kỳ “có dấu vết” – kiểm tra, giám sát và báo cáo trở thành dữ liệu

Thông tư 134/2026/TT-BTC đưa hoạt động đấu thầu vào quỹ đạo quản trị dữ liệu, khi kiểm tra, giám sát và báo cáo được chuẩn hóa bằng biểu mẫu. Với doanh nghiệp, hồ sơ không chỉ để dự thầu mà phải nhất quán, truy vết và chịu được hậu kiểm.
Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 2): Kiểm soát giải ngân vốn viện trợ, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 2): Kiểm soát giải ngân vốn viện trợ, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 140/2026/TT-BTC làm rõ trách nhiệm quản lý vốn viện trợ nước ngoài, từ mở tài khoản, thông báo tiếp nhận đến giải ngân và hạch toán ngân sách. Tiền đã về chưa đồng nghĩa được sử dụng ngay, đặt ra rủi ro thanh toán với doanh nghiệp tham gia dự án.
Thông tư 134/2026/TT-BTC: Một lõi trong bảo lãnh, một mốc 5 ngày bị lỡ - giá của “sai thủ tục” ngày càng đắt

Thông tư 134/2026/TT-BTC: Một lõi trong bảo lãnh, một mốc 5 ngày bị lỡ - giá của “sai thủ tục” ngày càng đắt

Thông tư 134/2026/TT-BTC siết chặt kỷ luật hồ sơ sau dự thầu, khi một lỗi bảo lãnh hoặc chậm mốc 5 ngày có thể khiến nhà thầu mất quyền lợi. Với liên danh, sai sót của một thành viên còn có thể kéo cả nhóm vào rủi ro pháp lý.
Thông tư 134/2026/TT-BTC: Khi “mẫu hồ sơ” trở thành hạ tầng quản trị đấu thầu

Thông tư 134/2026/TT-BTC: Khi “mẫu hồ sơ” trở thành hạ tầng quản trị đấu thầu

Thông tư 134/2026/TT-BTC chuẩn hóa tám mẫu hồ sơ yêu cầu chỉ định thầu, đồng thời cho phép chỉnh sửa nhưng buộc giải trình rõ lý do. Với SME, năng lực hồ sơ, nghiệm thu và lịch sử thực hiện gói thầu trở thành lợi thế cạnh tranh bền vững.
Đường vào khu thương mại tự do rộng nhưng không dễ

Đường vào khu thương mại tự do rộng nhưng không dễ

Một khu thương mại tự do không còn được nhìn đơn thuần là một vùng đất lớn dành cho hoạt động xuất nhập khẩu. Với Nghị định 378/2026/NĐ-CP, Chính phủ đặt ra yêu cầu về cả hạ tầng, kết nối đa phương thức, hệ sinh thái sản xuất - logistics, công nghệ số và năng lực quản trị.
Đề xuất khung pháp lý mới cho thu giữ, lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí

Đề xuất khung pháp lý mới cho thu giữ, lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí

Bộ Công Thương đang đề xuất bổ sung quy định về thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) gắn với hoạt động dầu khí, từ đánh giá tiềm năng lưu trữ CO₂, yêu cầu kỹ thuật, thu dọn công trình đến cơ chế thu hồi chi phí và doanh thu từ tín chỉ carbon.
Nghị định 359/2026/NĐ-CP: “Trải” lỗ 5 năm, trái phiếu 0% và thị trường nợ xấu – ai được giảm áp lực, ai minh bạch hơn?

Nghị định 359/2026/NĐ-CP: “Trải” lỗ 5 năm, trái phiếu 0% và thị trường nợ xấu – ai được giảm áp lực, ai minh bạch hơn?

Nghị định 359/2026/NĐ-CP đưa xử lý nợ xấu vào quỹ đạo thị trường hơn, khi cho phép phân bổ khoản lỗ tối đa 5 năm, sử dụng trái phiếu đặc biệt lãi suất 0% và tăng yêu cầu minh bạch thông tin khoản nợ, tài sản, nghĩa vụ tài chính.
Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Trúng thầu chưa phải đích đến – Hậu kiểm đi theo hợp đồng, nhà thầu phụ và dữ liệu

Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Trúng thầu chưa phải đích đến – Hậu kiểm đi theo hợp đồng, nhà thầu phụ và dữ liệu

Nghị định 349/2026/NĐ-CP cho thấy trúng thầu chỉ là điểm khởi đầu, khi tiến độ hợp đồng, nhà thầu phụ và dữ liệu thực hiện đều nằm trong cơ chế hậu kiểm. Với doanh nghiệp, năng lực quản trị sau trúng thầu quyết định khả năng tuân thủ lâu dài.
Doanh nghiệp thực phẩm phải sẵn sàng hồ sơ truy xuất trong 24 giờ

Doanh nghiệp thực phẩm phải sẵn sàng hồ sơ truy xuất trong 24 giờ

Một thay đổi đáng chú ý khởi đầu từ ngày 15/11/2026 là yêu cầu doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải tổ chức lưu trữ hồ sơ đủ để phục vụ truy xuất nguồn gốc. Cụ thể, khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, doanh nghiệp phải có khả năng cung cấp, trích xuất hồ sơ trong vòng 24 giờ.
Đất bỏ hoang có thể chịu thuế cao gấp gần 7 lần đất ở trong hạn mức

Đất bỏ hoang có thể chịu thuế cao gấp gần 7 lần đất ở trong hạn mức

Bộ Tài chính đề xuất áp thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng, không áp dụng hạn mức. Nếu được thông qua, mức thuế này sẽ cao gần 7 lần thuế suất 0,03% đang áp dụng đối với đất ở trong hạn mức.
Nghị định 359/2026/NĐ-CP: Tài sản đảm bảo bước vào “đường ray” xử lý nhanh – doanh nghiệp còn bao nhiêu dư địa thương lượng

Nghị định 359/2026/NĐ-CP: Tài sản đảm bảo bước vào “đường ray” xử lý nhanh – doanh nghiệp còn bao nhiêu dư địa thương lượng

Nghị định 359/2026/NĐ-CP làm rõ cơ chế xử lý tài sản bảo đảm, từ kế thừa quyền chủ nợ đến đấu giá và chuyển quyền. Với doanh nghiệp, hồ sơ thế chấp, thời điểm thương lượng và phương án chủ động xử lý tài sản trở thành điểm then chốt.
Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Một báo giá cũng có thể lập gói thầu – nhưng mỗi con số đều để lại “dấu vết”

Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Một báo giá cũng có thể lập gói thầu – nhưng mỗi con số đều để lại “dấu vết”

Nghị định 349/2026/NĐ-CP thay đổi cách doanh nghiệp tham gia xác định giá gói thầu khi chỉ cần tối thiểu một báo giá nhưng dữ liệu phải được công khai, truy vết. Với nhà cung cấp, báo giá không chỉ là chào hàng mà còn là trách nhiệm pháp lý.