Thứ hai 12/10/2026 08:20
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Nâng cao đóng góp của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào tăng trưởng kinh tế

12/05/2022 16:30
Nâng cao đóng góp của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào tăng trưởng kinh tế thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các viện nghiên cứu và trường đại học, hoạt động đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản
Ảnh minh họa
Triển khai các giải pháp nâng cao số lượng và chất lượng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng nhu cầu của khu vực doanh nghiệp.

Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam vừa ký Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022 ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.

Mục tiêu cụ thể của Chiến lược là khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò quan trọng phát triển công nghiệp mũi nhọn, trọng tâm là công nghiệp chế biến, chế tạo, góp phần quan trọng vào cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại, đưa nước ta trở thành nước có công nghiệp hiện đại vào năm 2030; tham gia tích cực, hiệu quả và tận dụng lợi thế thương mại, cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đến năm 2030, tỉ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt tối thiểu 45%.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần quan trọng trong xây dựng, phát triển giá trị văn hóa, xã hội, con người Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước; đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7;...

Doanh nghiệp lớn có vai trò trung tâm dẫn dắt các hoạt động đổi mới sáng tạo

Một trong các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia.

Cụ thể, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia liên kết chặt chẽ với khu vực và thế giới. Phát triển các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ gắn với các chuỗi giá trị nội địa và toàn cầu, các cụm liên kết ngành; trong đó các doanh nghiệp lớn có vai trò trung tâm dẫn dắt các hoạt động đổi mới sáng tạo, các cơ quan quản lý nhà nước có vai trò kiến tạo môi trường thể chế, chính sách thuận lợi, thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức hỗ trợ trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới sáng tạo.

Phát triển hệ thống các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, các trung tâm đổi mới sáng tạo ngành, vùng, các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo nhằm phát triển, tích hợp hình thành các cụm liên kết đổi mới sáng tạo với các khu công nghệ cao, khu dân cư, trung tâm tài chính, quỹ đầu tư mạo hiểm, trường đại học, viện nghiên cứu; triển khai mạnh mẽ các nền tảng đổi mới sáng tạo mở, mạng lưới đổi mới sáng tạo mở nhằm thu hút mọi nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước tạo ra các công nghệ mới, sản phẩm mới, hình thành doanh nghiệp mới.

Tăng cường liên kết các mạng lưới đổi mới sáng tạo, mạng lưới khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, các trung tâm đổi mới sáng tạo, các trung tâm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong và ngoài nước.

Hoàn thiện hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và tăng cường đầu tư về nhân lực, tài chính, cơ sở hạ tầng cho các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chức năng, nhiệm vụ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thuộc các Sở Khoa học và Công nghệ để trở thành các đầu mối hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo tại địa phương.

Đầu tư xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao

Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu khác của Chiến lược là phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có trình độ và năng lực sáng tạo cao.

Cụ thể, chuẩn bị trước một bước nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong tương lai. Tăng cường đào tạo kiến thức về khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực tin học, ngoại ngữ, rèn luyện năng lực thiết kế sáng tạo gắn với các dự án thực tế trong trường phổ thông, đặc biệt thông qua hình thức đào tạo STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học) và STEAM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật và toán học). Tăng cường định hướng nghề nghiệp và tư vấn theo đuổi khoa học, kỹ thuật và ngành kỹ thuật trong các trường học phổ thông và các trường đại học.

Đầu tư xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao. Nhanh chóng xây dựng đội ngũ nhà khoa học đầu ngành, từng bước nâng cao tiêu chuẩn nhà khoa học đầu ngành tiệm cận với tiêu chuẩn ở các nước phát triển. Tiếp tục chương trình tuyển chọn, gửi đi đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao thuộc các lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm ở các nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến.

Triển khai các giải pháp nâng cao số lượng và chất lượng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng nhu cầu của khu vực doanh nghiệp. Đổi mới chương trình đào tạo cho đối tượng nhân lực khoa học và công nghệ trong các trường cao đẳng, đại học hướng tới đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

Thúc đẩy thu hút và dịch chuyển nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên cơ sở rà soát, sửa đổi các quy định nhằm khuyến khích chuyển dịch nhân lực hai chiều giữa khu vực công và tư; có cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh phí và tạo thuận lợi về thủ tục xuất/nhập cảnh, visa, giấy phép lao động,... để thu hút nhân lực trình độ cao từ nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước; phát triển các mạng lưới kết nối nhân tài người Việt Nam, thu hút sự tham gia đóng góp của cộng đồng các nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài; có chính sách đưa người Việt Nam vào làm việc tại các tập đoàn đa quốc gia, các doanh nghiệp khởi nghiệp ở nước ngoài, sau đó trở về nước làm việc; tháo gỡ các chính sách để tạo thuận lợi cho các giảng viên, cán bộ nghiên cứu thường xuyên tham gia vào hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp.

Chí Kiên/Baochinhphu.vn

Tin bài khác
Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Siết quản lý vốn viện trợ nước ngoài, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Siết quản lý vốn viện trợ nước ngoài, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 140/2026/TT-BTC siết quản lý nguồn viện trợ không hoàn lại nước ngoài thuộc ngân sách nhà nước, từ lập dự toán đến kiểm tra quyết toán. Quy định đặt ra yêu cầu minh bạch, kiểm soát nguồn lực và cảnh báo rủi ro thanh toán với doanh nghiệp tham gia dự án.
Nghị định 371/2026/NĐ-CP (Kỳ 1): Mở rộng quyền tuyển dụng, doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh nhân lực

Nghị định 371/2026/NĐ-CP (Kỳ 1): Mở rộng quyền tuyển dụng, doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh nhân lực

Nghị định 371/2026/NĐ-CP mở rộng quyền tuyển dụng trực tiếp lao động Việt Nam cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc diện áp dụng. Cơ chế mới tăng tính chủ động, minh bạch thông tin, đồng thời đặt doanh nghiệp nhỏ và vừa trước sức ép cạnh tranh nhân lực.
Thông tư 138/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Minh bạch thông tin, doanh nghiệp đối diện yêu cầu mới về huy động vốn

Thông tư 138/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Minh bạch thông tin, doanh nghiệp đối diện yêu cầu mới về huy động vốn

Thông tư 138/2026/TT-BTC đặt ra yêu cầu minh bạch thông tin trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ. Từ dữ liệu tài chính đến trách nhiệm công bố, doanh nghiệp phải chuẩn hóa quản trị, kiểm soát rủi ro pháp lý và củng cố niềm tin nhà đầu tư.
Thông tư 134/2026/TT-BTC: Đấu thầu bước vào thời kỳ “có dấu vết” – kiểm tra, giám sát và báo cáo trở thành dữ liệu

Thông tư 134/2026/TT-BTC: Đấu thầu bước vào thời kỳ “có dấu vết” – kiểm tra, giám sát và báo cáo trở thành dữ liệu

Thông tư 134/2026/TT-BTC đưa hoạt động đấu thầu vào quỹ đạo quản trị dữ liệu, khi kiểm tra, giám sát và báo cáo được chuẩn hóa bằng biểu mẫu. Với doanh nghiệp, hồ sơ không chỉ để dự thầu mà phải nhất quán, truy vết và chịu được hậu kiểm.
Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 2): Kiểm soát giải ngân vốn viện trợ, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 2): Kiểm soát giải ngân vốn viện trợ, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 140/2026/TT-BTC làm rõ trách nhiệm quản lý vốn viện trợ nước ngoài, từ mở tài khoản, thông báo tiếp nhận đến giải ngân và hạch toán ngân sách. Tiền đã về chưa đồng nghĩa được sử dụng ngay, đặt ra rủi ro thanh toán với doanh nghiệp tham gia dự án.
Thông tư 134/2026/TT-BTC: Một lõi trong bảo lãnh, một mốc 5 ngày bị lỡ - giá của “sai thủ tục” ngày càng đắt

Thông tư 134/2026/TT-BTC: Một lõi trong bảo lãnh, một mốc 5 ngày bị lỡ - giá của “sai thủ tục” ngày càng đắt

Thông tư 134/2026/TT-BTC siết chặt kỷ luật hồ sơ sau dự thầu, khi một lỗi bảo lãnh hoặc chậm mốc 5 ngày có thể khiến nhà thầu mất quyền lợi. Với liên danh, sai sót của một thành viên còn có thể kéo cả nhóm vào rủi ro pháp lý.
Thông tư 134/2026/TT-BTC: Khi “mẫu hồ sơ” trở thành hạ tầng quản trị đấu thầu

Thông tư 134/2026/TT-BTC: Khi “mẫu hồ sơ” trở thành hạ tầng quản trị đấu thầu

Thông tư 134/2026/TT-BTC chuẩn hóa tám mẫu hồ sơ yêu cầu chỉ định thầu, đồng thời cho phép chỉnh sửa nhưng buộc giải trình rõ lý do. Với SME, năng lực hồ sơ, nghiệm thu và lịch sử thực hiện gói thầu trở thành lợi thế cạnh tranh bền vững.
Đường vào khu thương mại tự do rộng nhưng không dễ

Đường vào khu thương mại tự do rộng nhưng không dễ

Một khu thương mại tự do không còn được nhìn đơn thuần là một vùng đất lớn dành cho hoạt động xuất nhập khẩu. Với Nghị định 378/2026/NĐ-CP, Chính phủ đặt ra yêu cầu về cả hạ tầng, kết nối đa phương thức, hệ sinh thái sản xuất - logistics, công nghệ số và năng lực quản trị.
Đề xuất khung pháp lý mới cho thu giữ, lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí

Đề xuất khung pháp lý mới cho thu giữ, lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí

Bộ Công Thương đang đề xuất bổ sung quy định về thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) gắn với hoạt động dầu khí, từ đánh giá tiềm năng lưu trữ CO₂, yêu cầu kỹ thuật, thu dọn công trình đến cơ chế thu hồi chi phí và doanh thu từ tín chỉ carbon.
Nghị định 359/2026/NĐ-CP: “Trải” lỗ 5 năm, trái phiếu 0% và thị trường nợ xấu – ai được giảm áp lực, ai minh bạch hơn?

Nghị định 359/2026/NĐ-CP: “Trải” lỗ 5 năm, trái phiếu 0% và thị trường nợ xấu – ai được giảm áp lực, ai minh bạch hơn?

Nghị định 359/2026/NĐ-CP đưa xử lý nợ xấu vào quỹ đạo thị trường hơn, khi cho phép phân bổ khoản lỗ tối đa 5 năm, sử dụng trái phiếu đặc biệt lãi suất 0% và tăng yêu cầu minh bạch thông tin khoản nợ, tài sản, nghĩa vụ tài chính.
Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Trúng thầu chưa phải đích đến – Hậu kiểm đi theo hợp đồng, nhà thầu phụ và dữ liệu

Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Trúng thầu chưa phải đích đến – Hậu kiểm đi theo hợp đồng, nhà thầu phụ và dữ liệu

Nghị định 349/2026/NĐ-CP cho thấy trúng thầu chỉ là điểm khởi đầu, khi tiến độ hợp đồng, nhà thầu phụ và dữ liệu thực hiện đều nằm trong cơ chế hậu kiểm. Với doanh nghiệp, năng lực quản trị sau trúng thầu quyết định khả năng tuân thủ lâu dài.
Doanh nghiệp thực phẩm phải sẵn sàng hồ sơ truy xuất trong 24 giờ

Doanh nghiệp thực phẩm phải sẵn sàng hồ sơ truy xuất trong 24 giờ

Một thay đổi đáng chú ý khởi đầu từ ngày 15/11/2026 là yêu cầu doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải tổ chức lưu trữ hồ sơ đủ để phục vụ truy xuất nguồn gốc. Cụ thể, khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, doanh nghiệp phải có khả năng cung cấp, trích xuất hồ sơ trong vòng 24 giờ.
Đất bỏ hoang có thể chịu thuế cao gấp gần 7 lần đất ở trong hạn mức

Đất bỏ hoang có thể chịu thuế cao gấp gần 7 lần đất ở trong hạn mức

Bộ Tài chính đề xuất áp thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng, không áp dụng hạn mức. Nếu được thông qua, mức thuế này sẽ cao gần 7 lần thuế suất 0,03% đang áp dụng đối với đất ở trong hạn mức.
Nghị định 359/2026/NĐ-CP: Tài sản đảm bảo bước vào “đường ray” xử lý nhanh – doanh nghiệp còn bao nhiêu dư địa thương lượng

Nghị định 359/2026/NĐ-CP: Tài sản đảm bảo bước vào “đường ray” xử lý nhanh – doanh nghiệp còn bao nhiêu dư địa thương lượng

Nghị định 359/2026/NĐ-CP làm rõ cơ chế xử lý tài sản bảo đảm, từ kế thừa quyền chủ nợ đến đấu giá và chuyển quyền. Với doanh nghiệp, hồ sơ thế chấp, thời điểm thương lượng và phương án chủ động xử lý tài sản trở thành điểm then chốt.
Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Một báo giá cũng có thể lập gói thầu – nhưng mỗi con số đều để lại “dấu vết”

Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Một báo giá cũng có thể lập gói thầu – nhưng mỗi con số đều để lại “dấu vết”

Nghị định 349/2026/NĐ-CP thay đổi cách doanh nghiệp tham gia xác định giá gói thầu khi chỉ cần tối thiểu một báo giá nhưng dữ liệu phải được công khai, truy vết. Với nhà cung cấp, báo giá không chỉ là chào hàng mà còn là trách nhiệm pháp lý.