Điện tử và thực phẩm hai ngành xuất khẩu chủ chốt trong chuỗi cung ứng toàn cầu như thế nào?

DNHN - Tại “Hội thảo công bố Báo cáo thường niên Kinh tế Việt Nam 2021” ngày 29/7 với chủ đề “Định vị lại Việt Nam trong bối cảnh biến động toàn cầu” đã được tổ chức bởi Viện Friedrich Naumann Foundation (FNF) cùng với đối tác là Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách Việt Nam (VEPR). Tại buổi hội thảo, TS. Vũ Thanh Hương, Khoa Kinh tế Quốc tế Đại học Quốc gia Hà Nội đã có những nhận xét về vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử toàn cầu.

Theo TS. Hương, so với các nước ASEAN khác, các phân phúc mà Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn rất nhiều vấn đề cần phải tập trung tháo gỡ trong thời gian tới.

Bà Hương nhấn mạnh: “Nếu nhìn vào sự tham gia của Việt Nam vào các chuỗi giá trị theo ngành, có thể thấy rõ ràng rằng sự tham gia của Việt Nam vào “thượng nguồn” trong ngành chế biến chế tạo, tức là phần giá trị nội địa mà Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài để được nước ngoài sử dụng, sản xuất thấp hơn so với các ngành khác và đặc biệt thấp hơn so với ngành nông nghiệp. Như vậy cần phải lưu tâm nhiều hơn nữa đến ngành nông nghiệp nếu như Việt Nam muốn tăng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Điện tử là ngành vô cùng quan trọng trong kinh tế Việt Nam nếu mà xét cả về lao động, việc làm, doanh nghiệp, doanh thu, ngân sách nhà nước… đặc biệt đây là ngành mà từ năm 2012 đã trở thành ngành xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam”.

Việt Nam ở đâu trên “thượng nguồn” chuỗi cung ứng của hai ngành xuất khẩu chủ chốt?-1

 

So với các nước trên thế giới, Việt Nam cũng thuộc nhóm các nước đứng đầu về hàng điện tử. Lợi thế so sánh của Việt Nam trong ngành hàng điện tử rất cao, trong năm 2020, Việt Nam đứng thứ 5 trên thế giới về lợi thế so sánh trong ngành hàng điện tử. Đây là ngành hàng duy nhất của Việt Nam có xu hướng lợi thế so sánh gia tăng và tăng rất mạnh.

Trong ngành hàng điện tử, có những ngành hàng sản xuất mà Việt Nam có lợi thế so sánh rất cao so với các nước trên thế giới, thậm chí cao nhất thế giới, ví như ngành sản xuất điện thoại, mặt hàng micro và loa. Những mặt hàng này có lợi thế so sánh (Relative Competitive Advantage - RCA) cao nhất trên thế giới và điều đó khẳng định đây là nhóm ngành mà Việt Nam có nhiều lợi thế để đẩy tăng lợi thế so sánh trong tương lai, bà Hương phân tích.

Việt Nam ở đâu trên “thượng nguồn” chuỗi cung ứng của hai ngành xuất khẩu chủ chốt?-2

Cũng theo kết quả nghiên cứu của TS. Hương, nếu nhìn từ góc độ mức độ phức tạp của sản phẩm, chỉ số này sẽ giúp biết được rằng mức độ chuyên môn hóa, hàm lượng công nghệ trong sản phẩm ra sao. So sánh độ phức tạp của sản phẩm, kết hợp với RCA cũng như so sánh với giá trị xuất khẩu của Việt Nam, có thể thấy rõ những mặt hàng có lợi thế so sánh như điện thoại, loa thì chỉ số RCA cao nhưng chỉ số phức tạp của sản phẩm lại thấp. Như vậy có thể thấy những mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế so sánh là những mặt hàng mà mức độ phức tạp của sản phẩm thấp.

Bên cạnh đó, với những sản phẩm mà Việt Nam xuất khẩu rất nhiều trên thị trường thế giới lại cũng có độ phức tạp của sản phẩm thấp. Hay nói cách khác, những sản phẩm mà Việt Nam sản xuất và xuất khẩu có mức độ chuyên môn hóa thấp, hàm lượng công nghệ thấp và rất nhiều nước có thể làm được tương tự.

"Trong tương lai, nếu như Việt Nam không có những sự thay đổi, Việt Nam sẽ dễ dàng bị các nước khác thay thế trong ngành hàng gia công và lắp ráp các mặt hàng điện tử". TS. Hương lưu ý.

Việt Nam ở đâu trên “thượng nguồn” chuỗi cung ứng của hai ngành xuất khẩu chủ chốt?-3

 

Tính toán của bà Hương cho hay, xét đến mức độ tham gia của Việt Nam trong chuỗi cung ứng hàng điện tử toàn cầu, có thể thấy Việt Nam tham gia với tỷ lệ rất cao, tỷ lệ lên đến 84-87% và vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng hàng điện tử cũng ngày càng được cải thiện. Mặc dù Việt Nam chủ yếu vẫn nhập khẩu nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài để sản xuất nhưng hàm lượng Việt Nam xuất ra nước ngoài để nước ngoài nhập về sản xuất sản phẩm của họ đang ngày một gia tăng.

Tuy nhiên có một điểm không thể bỏ qua, doanh nghiệp FDI hiện đang là bên dẫn dắt, định hình chuỗi cung ứng sản phẩm điện tử của Việt Nam ra nước ngoài. Đối tác ở phần “thượng nguồn” của Việt Nam, tức là đối tác mà Việt Nam xuất khẩu để họ sử dụng đầu vào của Việt Nam bao gồm doanh nghiệp rất nhiều nước, không chỉ châu Âu mà còn cả các nước Bắc Mỹ. Trong khi đó, đối tác tham gia vào phần “hạ nguồn” của Việt Nam, tức là đối tác mà Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu đầu vào chủ yếu các nước trong khu vực châu Á.

Nhìn trên bản đồ liên kết chuỗi giá trị ngành điện tử toàn cầu, Việt Nam đang là một đầu mối lớn. Việt Nam đang thâm nhập rất sâu vào chuỗi giá trị ngành điện tử toàn cầu, bà Hương kết luận.

Nếu so với ngành thực phẩm, có thể thấy rất nhiều sự khác biệt, bà Hương phân tích.

Ngành thực phẩm cũng là ngành có kim ngạch xuất khẩu khá lớn của Việt Nam nhưng lại là ngành mà Việt Nam không có lợi thế so sánh. Trong suốt giai đoạn dài từ năm 2010 đến năm 2020, Việt Nam không có lợi thế so sánh trong mặt hàng này. Thậm chí lợi thế so sánh của ngành hàng thực phẩm lại có phần giảm sút. Trong năm 2020, RCA của ngành thực phẩm giảm đến 4% so với năm 2019.

Tuy nhiên nếu phân tích ngành kỹ hơn, trong ngành hàng thực phẩm có những mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế so sánh cực lớn, thậm chí đứng đầu thế giới ví như ngành động vật, giáp xác và chế biến. Để có thể nâng cao lợi thế so sánh của Việt Nam trong ngành này, Việt Nam cần phải cân nhắc nên đẩy mạnh đầu tư vào nhóm ngành nào để có thể nâng cao được lợi thế so sánh trong nhóm ngành đó.

Với sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị thực phẩm, sự so sánh khá giống với ngành điện tử, đó là sự tham gia có phần giảm đi, nhưng vị thế lại tăng lên. Trái ngược với ngành điện tử, các doanh nghiệp FDI dẫn dắt và định hình thì trong ngành hàng thực phẩm, thì doanh nghiệp tư nhân Việt Nam lại giữ vị thế chủ đạo. Còn trong tương quan chuỗi giá trị của ngành thực phẩm toàn cầu, Việt Nam chỉ có sự tham gia nông và vị trí thấp, bà Hương nhận định.

PV ghi

Tin liên quan