Thứ hai 05/10/2026 21:07
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Chính thức ban hành Thông tư số 03/2021/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01

05/04/2021 06:38
Thông tư số 03/2021/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2020/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi...

Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Như vậy, sau một thời gian doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng thấp thỏm đợi chờ, đến nay Ngân hàng Nhà nước đã chính thức ban hành Thông tư 03 ngày 2/4/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD) cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Giữ nguyên nhóm nợ và phân loại nợ

TCTD được giữ nguyên nhóm nợ đã phân loại theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD tại thời điểm gần nhất trước ngày 23/1/2020 đối với số dư nợ của khoản nợ phát sinh trước ngày 23/01/2020 thuộc diện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, bao gồm cả phần dư nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi và điều chỉnh nhóm nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến ngày 29/3/2020.

TCTD được giữ nguyên nhóm nợ đã phân loại theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD đối với số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi của khoản nợ phát sinh từ ngày 23/1/2020 đến trước ngày 10/6/2020 theo quy định của Thông tư.

Đối với số dư nợ sau khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ còn trong hạn theo thời hạn cơ cấu lại, TCTD không phải áp dụng nguyên tắc điều chỉnh, phân loại lại vào nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD.

Đối với số dư nợ sau khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ bị quá hạn theo thời hạn cơ cấu lại mà không được TCTD tiếp tục cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo quy định tại Thông tư này, TCTD phải thực hiện phân loại nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD.

Đối với số lãi phải thu của số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi và giữ nguyên nhóm nợ đủ tiêu chuẩn (nhóm 1) theo quy định tại Thông tư này, kể từ ngày được cơ cấu lại, TCTD không hạch toán thu nhập (dự thu) mà theo dõi ngoại bảng để đôn đốc thu; thực hiện hạch toán vào thu nhập khi thu được theo quy định của pháp luật về chế độ tài chính đối với TCTD.

Kể từ ngày 1/1/2024, TCTD căn cứ quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD để phân loại đối với toàn bộ dư nợ, cam kết ngoại bảng của khách hàng, bao gồm cả số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi và giữ nguyên nhóm nợ theo quy định tại Thông tư.

8 điều kiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Thông tư số 03/2021/TT-NHNN quy định việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ của khoản nợ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện 8 điều kiện.

Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ cho doanh nghiệp thông qua việc thực hiện hiệu quả Thông tư 01/2020/TT-NHNN về giảm lãi suất, cơ cấu lại nợ cho doanh nghiệp và giữ nguyên nhóm nợ
Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ cho doanh nghiệp thông qua việc thực hiện hiệu quả Thông tư 01/2020/TT-NHNN về giảm lãi suất, cơ cấu lại nợ cho doanh nghiệp và giữ nguyên nhóm nợ. (Ảnh: minh họa)

Một là, phát sinh trước ngày 10/6/2020 từ hoạt động cho vay, cho thuê tài chính.

Hai là, phát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến ngày 31/12/2021.

Ba là, số dư nợ của khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ thuộc một trong các trường hợp: số dư nợ còn trong hạn hoặc quá hạn đến 10 ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán, thời hạn trả nợ theo hợp đồng, thỏa thuận; số dư nợ của khoản nợ phát sinh trước ngày 23/1/2020 và quá hạn trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến ngày 29/3/2020; số dư nợ của khoản nợ phát sinh từ ngày 23/1/2020 và quá hạn trước ngày 17/5/2021.

Bốn là, được TCTD đánh giá khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid -19.

Năm là, khách hàng có đề nghị được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và TCTD đánh giá khách hàng có khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại.

Sáu là, TCTD không thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với khoản nợ vi phạm quy định pháp luật.

Bảy là, thời gian cơ cấu lại thời hạn trả nợ (kể cả trường hợp gia hạn nợ) phù hợp với mức độ ảnh hưởng của dịch Covid-19 đối với khách hàng và không vượt quá 12 tháng kể từ ngày TCTD thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ.

Tám là, việc thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng thực hiện đến ngày 31/12/2021.

Về miễn, giảm lãi, phí, TCTD quyết định việc miễn, giảm lãi, phí theo quy định nội bộ đối với số dư nợ của khoản nợ phát sinh trước ngày 10/6/2020 từ hoạt động cấp tín dụng (trừ hoạt động mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) mà nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi đến hạn thanh toán trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến ngày 31/12/2021 và khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Việc thực hiện miễn, giảm lãi, phí cho khách hàng theo quy định tại Thông tư này thực hiện đến ngày 31/12/2021.

Chính thức áp dụng lộ trình trích lập dự phòng 3 năm

Thông tư số 03/2021/TT-NHNN còn bổ sung quy định về trích lập dự phòng rủi ro. Theo đó, TCTD thực hiện trích lập dự phòng cụ thể đối với khách hàng có số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi như sau:

Căn cứ quy định của Ngân hàng Nhà nước về trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của TCTD, TCTD thực hiện trích lập số tiền dự phòng cụ thể đối với toàn bộ dư nợ của khách hàng theo kết quả phân loại nợ đối với phần dư nợ được giữ nguyên nhóm nợ và kết quả phân loại nợ đối với dư nợ còn lại của khách hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD (gọi số tiền này là B).

TCTD xác định số tiền dự phòng cụ thể phải trích đối với toàn bộ dư nợ của khách hàng theo kết quả phân loại nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ trong hoạt động của TCTD, không áp dụng quy định giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư (gọi số tiền này tại A).

TCTD xác định số tiền dự phòng cụ thể phải trích bổ sung theo công thức: số tiền dự phòng cụ thể phải trích = A - B.

Trong trường hợp số tiền dự phòng cụ thể phải trích bổ sung được xác định là dương, TCTD thực hiện trích bổ sung dự phòng cụ thể như sau: đến thời điểm 31/12/2021, tối thiểu 30% số tiền dự phòng cụ thể phải trích bổ sung; đến thời điểm 31/12/2022, tối thiểu 60% số tiền dự phòng cụ thể phải trích bổ sung; đến thời điểm 31/12/2023, 100% số tiền dự phòng cụ thể phải trích bổ sung.

Kể từ ngày 1/1/2024, TCTD căn cứ quy định của Ngân hàng Nhà nước về trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của TCTD để trích lập dự phòng rủi ro đối với toàn bộ dư nợ, cam kết ngoại bảng của khách hàng, bao gồm cả số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi và giữ nguyên nhóm nợ theo quy định tại Thông tư.

Thông tư số 03/2021/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 17/5/2021.

Ngân Phương

Tin bài khác
Quy định mới và lộ trình áp dụng chuẩn cho trụ, trạm sạc xe điện

Quy định mới và lộ trình áp dụng chuẩn cho trụ, trạm sạc xe điện

Bộ Công Thương vừa ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trụ sạc, trạm sạc xe điện, lần đầu đặt ra hệ thống yêu cầu đồng bộ về an toàn điện, phòng cháy, chữa cháy, hạ tầng, đo đếm, quản lý phụ tải và dữ liệu vận hành. Quy chuẩn sẽ chính thức được áp dụng từ ngày 1/7/2027.
Nghị định 359/2026/NĐ-CP: Khi xử lý nợ xấu không còn dừng ở “bán nợ”

Nghị định 359/2026/NĐ-CP: Khi xử lý nợ xấu không còn dừng ở “bán nợ”

Nghị định 359/2026/NĐ-CP mở rộng vai trò VAMC từ xử lý nợ xấu sang tái cấu trúc, hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp. Khách hàng có nợ xấu có thể được xem xét cấp tín dụng, giảm lãi, thậm chí giảm một phần nợ gốc khi đáp ứng điều kiện.
Nghị định 357/2026/NĐ-CP: Cơ cấu lại vốn nhà nước – Thương vụ không thể chạy nhanh hơn “đồng hồ ngân sách”

Nghị định 357/2026/NĐ-CP: Cơ cấu lại vốn nhà nước – Thương vụ không thể chạy nhanh hơn “đồng hồ ngân sách”

Nghị định 357/2026/NĐ-CP đặt cơ cấu lại vốn nhà nước vào kỷ luật dự toán, nơi tiến độ thương vụ phụ thuộc vào khả năng chuẩn bị nguồn chi từ sớm. Quy tắc 70% và chi phí lao động buộc doanh nghiệp tính toán trước khi triển khai thương vụ
Nghị định 349/2026/NĐ-CP: “Luật chơi” mới trong lựa chọn nhà thầu – cơ hội rộng hơn, hậu kiểm chặt hơn

Nghị định 349/2026/NĐ-CP: “Luật chơi” mới trong lựa chọn nhà thầu – cơ hội rộng hơn, hậu kiểm chặt hơn

Nghị định 349/2026/NĐ-CP mở rộng chỉ định thầu, nâng hạn mức và đơn giản hóa mua sắm nhỏ, tạo cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh. Tuy nhiên, thủ tục gọn hơn không đồng nghĩa trách nhiệm giảm; tư cách, giá và chứng từ vẫn phải chặt chẽ.
Doanh nghiệp khảo sát, xây dựng trên tuyến hàng hải được chấp thuận trong 10 ngày

Doanh nghiệp khảo sát, xây dựng trên tuyến hàng hải được chấp thuận trong 10 ngày

Bộ Xây dựng quy định thời hạn chậm nhất 10 ngày làm việc để xử lý hồ sơ chấp thuận hoạt động khảo sát, thăm dò, xây dựng công trình trên tuyến hàng hải, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Quy định mới giúp doanh nghiệp chủ động hơn về tiến độ thủ tục.
Việt Nam đặt mục tiêu 8-10 triệu hợp đồng giao dịch hàng hóa phái sinh mỗi năm vào 2030

Việt Nam đặt mục tiêu 8-10 triệu hợp đồng giao dịch hàng hóa phái sinh mỗi năm vào 2030

Bộ Công Thương đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển khoảng 10 mặt hàng nội địa được giao dịch qua Sở Giao dịch hàng hóa, với khối lượng khoảng 8-10 triệu hợp đồng mỗi năm; thu hút 300-500 doanh nghiệp tham gia thị trường.
Dự thảo mới: Nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn, quản lý và vận hành chợ

Dự thảo mới: Nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn, quản lý và vận hành chợ

Bộ Công Thương đề xuất cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn, quản lý và vận hành hạ tầng chợ thông qua liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam, với tỷ lệ góp vốn tối đa 49% vốn điều lệ.
Từ đơn vị sự nghiệp công lập sang doanh nghiệp: Những tiêu chí mới cần lưu ý

Từ đơn vị sự nghiệp công lập sang doanh nghiệp: Những tiêu chí mới cần lưu ý

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 373/2026/NĐ-CP ngày 30/9/2026, quy định việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp. Quy định mới xác lập rõ đối tượng, nguyên tắc, tiêu chí và hình thức chuyển đổi, trong đó đặt điều kiện quan trọng về khả năng tự bảo đảm chi thường xuyên của đơn vị trong 2 năm gần nhất.
Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Giấy phép không phải là “tài sản vĩnh viễn” – rủi ro thu hồi bắt đầu từ một báo cáo bỏ quên

Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Giấy phép không phải là “tài sản vĩnh viễn” – rủi ro thu hồi bắt đầu từ một báo cáo bỏ quên

Nghị định 342/2026/NĐ-CP đặt kỷ luật tuân thủ vào vị trí trung tâm khi gắn báo cáo định kỳ và việc duy trì điều kiện kinh doanh với nguy cơ thu hồi giấy phép. Với doanh nghiệp FDI, báo cáo bị bỏ quên có thể thành rủi ro pháp lý.
Thông tư 54/2026/TT-BCT: Giấy phép còn hạn nhưng mỏ vẫn phải dừng – “đường băng pháp lý” của doanh nghiệp nằm ở trữ lượng

Thông tư 54/2026/TT-BCT: Giấy phép còn hạn nhưng mỏ vẫn phải dừng – “đường băng pháp lý” của doanh nghiệp nằm ở trữ lượng

Thông tư 54/2026/TT-BCT đặt ra ranh giới pháp lý rõ ràng: giấy phép còn thời hạn không đồng nghĩa doanh nghiệp được tiếp tục khai thác khi đã hết trữ lượng được phép. Điều này buộc doanh nghiệp phải quản trị trữ lượng, hồ sơ điều chỉnh và dòng tiền.
Nghị định 357/2026/NĐ-CP: Khi tiền thoái vốn được đặt lại trong”đường ống” ngân sách

Nghị định 357/2026/NĐ-CP: Khi tiền thoái vốn được đặt lại trong”đường ống” ngân sách

Nghị định 357/2026/NĐ-CP đặt nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước vào kỷ luật ngân sách, buộc doanh nghiệp tách bạch tiền thương vụ với tiền phải nộp. Dòng vốn sau thoái vốn có thể được tái phân bổ cho doanh nghiệp dẫn dắt, hạ tầng trọng điểm.
Đề xuất một đầu mối quản lý an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương

Đề xuất một đầu mối quản lý an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đề xuất Bộ Y tế là đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ở Trung ương, UBND các cấp chịu trách nhiệm tại địa phương, đồng thời chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên mức độ rủi ro.
Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Mở thêm điểm bán – “bài kiểm tra thị trường” không chỉ nhìn vào diện tích

Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Mở thêm điểm bán – “bài kiểm tra thị trường” không chỉ nhìn vào diện tích

Nghị định 342/2026/NĐ-CP đặt mở thêm điểm bán của doanh nghiệp có vốn nước ngoài dưới lăng kính kiểm tra nhu cầu kinh tế. Diện tích không phải tiêu chí duy nhất; cạnh tranh, chợ truyền thống, nhu cầu thị trường và an ninh ảnh hưởng quyết định cấp phép.
Thông tư 54/2026/TT-BCT: Mỗi tấn khoáng sản phải có “dấu vết” – khi quản trị mỏ trở thành quản trị dữ liệu

Thông tư 54/2026/TT-BCT: Mỗi tấn khoáng sản phải có “dấu vết” – khi quản trị mỏ trở thành quản trị dữ liệu

Thông tư 54/2026/TT-BCT đưa quản trị khai thác khoáng sản sang mô hình kiểm soát bằng dữ liệu, nơi sản lượng, sổ sách, thiết bị đo đếm và báo cáo phải thống nhất. Với doanh nghiệp, yêu cầu này tăng trách nhiệm tuân thủ, đồng thời làm rõ rủi ro.
Hàng hóa rủi ro cao từ 1/1/2027 sẽ phải để lại “dấu chân” số

Hàng hóa rủi ro cao từ 1/1/2027 sẽ phải để lại “dấu chân” số

Một lô hàng sẽ không chỉ được nhận diện bằng nhãn hay mã truy vết hiện có. Dữ liệu về sản xuất, lưu thông, hóa đơn, thông quan và các giấy tờ liên quan sẽ từng bước được kết nối để có thể kiểm tra lại hành trình của hàng hóa.