ASEAN: Việt Nam trở thành thị trường chín muồi cho ngân hàng thời đại mới

DNHN - Hơn 40% dân số Việt Nam đã tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng nhưng thị trường này vẫn chưa xuất hiện người chiến thắng cuối cùng.

Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất và sở hữu khu vực ngân hàng đầy tiềm năng
Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất Đông Nam Á và sở hữu lĩnh vực ngân hàng đầy tiềm năng. 

Đầu những năm 2000, phát triển công nghệ số máy tính và internet đặt ra nhiều thách thức cho các tổ chức tín dụng truyền thống. Đại dịch Covid-19 buộc mọi doanh nghiệp nhanh chóng chuyển đổi giao dịch và tương tác sang hướng kỹ thuật số. Trong nửa đầu năm 2021, 134,8 triệu khách hàng ngân hàng ở châu Á - Thái Bình Dương (APAC) sẵn sàng đón nhận thay đổi mới. 

Các ngân hàng APAC đang gấp rút đáp ứng mức tăng trưởng trung bình ít nhất 50% giao dịch số. Cụ thể, 44% trong số 250 ngân hàng hàng đầu trên khắp châu Á Thái Bình Dương sẽ hoàn thành quá trình chuyển đổi cốt lõi dựa trên hiện đại hóa nền tảng. 58% giám đốc điều hành ngân hàng dự đoán mô hình ngân hàng truyền thống sẽ biến mất từ 5 đến 10 năm nữa. 

Báo cáo của FT Focus cũng chỉ ra, khu vực châu Á - Thái Bình Dương có tốc độ chuyển đổi kỹ thuật số chậm nhất so với các nơi khác trên thế giới. Mặc dù vậy, cộng đồng ngân hàng cũng đang dần bắt kịp với toàn cầu, số lượng dự án đầu tư dữ liệu lớn, máy học và blockchain ngày càng tăng.

Khảo sát Dịch vụ Tài chính Cá nhân năm 2021 cho thấy, trong khi việc áp dụng ngân hàng kỹ thuật số ở các thị trường phát triển như Úc, Hồng Kông và Singapore đã ổn định khoảng 90% kể từ năm 2017, thì các thị trường mới nổi, cụ thể là Trung Quốc đại lục, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam đã chứng kiến ​​sự thâm nhập ngày càng rộng rãi trong vài năm qua, từ 55% vào năm 2017 lên 88% năm 2021. Ngoài ra, theo khảo sát PFS châu Á Thái Bình Dương của McKinsey, hơn 80% số người được hỏi khẳng định rằng họ sẽ tiếp tục sử dụng nhiều dịch vụ ngân hàng trực tuyến hơn. 

ASEAN - Thị trường tiềm năng

Malaysia, Philippines, Indonesia, Việt Nam và Thái Lan ghi nhận nhiều dấu hiệu tích cực bao gồm tự do hóa thị trường và nhân khẩu học tiềm năng. Tuy nhiên, hầu hết các ngân hàng số tại những thị trường này mới chỉ ở giai đoạn đầu chuyển đổi. Nguyên nhân là do người dùng Đông Nam Á phần lớn vẫn lo ngại về quyền riêng tư, thông tin cá nhân khi áp dụng công nghệ, cản trở quá trình chuyển đổi tại ngân hàng. 

Mặc dù vậy, tỷ lệ tiếp cận dịch vụ kỹ thuật số gần đây có phần khởi sắc. Với 40 triệu người dùng Internet mới trong năm 2021, ASEAN hiện có tổng cộng 440 triệu người dùng, tăng 10% năm 2020, nâng tỷ lệ sử dụng mạng lên 75%. Bên cạnh đó, hơn 90% người dùng kết nối thông qua điện thoại di động. Với lợi thế dân số hiểu biết kỹ thuật số và mức độ thâm nhập cao, lĩnh vực ngân hàng số hóa vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng, đặc biệt đối với các cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa. 

Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất Đông Nam Á và sở hữu lĩnh vực ngân hàng đầy tiềm năng. Hơn 40% dân số hiện đang sử dụng dịch vụ ngân hàng nhưng trước mắt thị trường này vẫn chưa xuất hiện người chiến thắng cuối cùng. Mặt khác, Thái Lan cung cấp nền kinh tế ổn định và trưởng thành hơn. Đây cũng là một trong những thị trường dễ tiếp cận nhất ở Đông Nam Á.

Ngân hàng kỹ thuật số tại Việt Nam

Về mặt lý thuyết, ngân hàng kỹ thuật số có thể được chia thành bốn giai đoạn:

Giai đoạn 1: Tập trung vào các ngân hàng đa kênh cung cấp dịch vụ đa dạng như ngân hàng trực tuyến hoặc ngân hàng di động.

Giai đoạn 2: Giai đoạn ghép kênh, tích hợp tất cả các dịch vụ vào một ứng dụng, tạo sự thuận tiện cho người dùng.

Giai đoạn 3: Khách hàng có thể sử dụng tất cả các dịch vụ tài chính mà không cần đến sự tồn tại của ngân hàng mặt đất.

Giai đoạn 4: Nhấn mạnh trải nghiệm cá nhân hóa cho người dùng.

Hiện tại, quá trình chuyển đổi số tại các ngân hàng Việt Nam đang ở giai đoạn đầu với lĩnh vực sôi động nhất là thanh toán online và ví điện tử. Miếng bánh hấp dẫn này đã thu hút các ngân hàng thương mại cũng như công ty công nghệ lớn từng bước thâm nhập thị trường.

Đến nay, một số ngân hàng đã phát triển hệ thống thanh toán điện tử. Điển hình là ví điện tử Bank Plus với sự hợp tác giữa Viettel với MBBank, VPBank với Timo (sau này được bán cho Vietcapital Bank), Maritime Bank với MEED, LienVietPostbank. Tháng 12/2018, Sacombank ra mắt Sacombank Pay được tích hợp đầy đủ các tính năng và tiện ích ngân hàng hiện đại.

Theo kết quả khảo sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến quý I/2021, khoảng 95% ngân hàng đã và đang xây dựng chiến lược và thực hiện chuyển đổi số. Trong số này, 88% có kế hoạch số hóa tất cả các sản phẩm và dịch vụ từ các kênh giao tiếp với khách hàng đến quản trị kinh doanh nội bộ. 

NHNN dự báo các ngân hàng số Việt Nam sẽ tăng trưởng doanh thu ít nhất 10%. Ngoài ra 58,1% các tổ chức tín dụng dự kiến ​​sẽ thu hút hơn 60% khách hàng trong các kênh giao dịch số với kỳ vọng tốc độ tăng trưởng khách hàng đạt trên 50 phần trăm trong 3-5 năm tới. Theo đánh giá của Viettonkin, với sự kết hợp của các chính sách hỗ trợ, hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng hạ tầng kỹ thuật số của Chính phủ, tiềm năng của thị trường ngân hàng số tại Việt Nam còn rất lớn. 

Thống kê tỷ lệ sử dụng ngân hàng kỹ thuật số tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Thống kê tỷ lệ sử dụng ngân hàng kỹ thuật số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. (Ảnh: McKinsey) 

Chính sách phát triển ngân hàng số tại Việt Nam

Với việc triển khai và phát triển tiền di động thông qua Quyết định 316 / QĐ-TTg vào năm 2021, người dùng ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa sẽ được tiếp cận với các dịch vụ tài chính, từ đó thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Mặt khác, các ngân hàng, công ty fintech và nhà khai thác mạng di động có thể hợp tác cung cấp dịch vụ, khai thác mạng lưới của VNPT, MobiFone, Viettel cũng như cơ sở khách hàng là 130 triệu tài khoản di động.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng cho phép mở tài khoản thanh toán cá nhân theo phương thức điện tử (e-KYC), khuyến khích người dùng thay đổi thói quen từ giao dịch ngoại tuyến sang giao dịch trực tuyến nhằm hướng tới một xã hội không tiền mặt. Theo quan điểm của các ngân hàng, ứng dụng e-KYC tiết kiệm đầu tư cơ sở vật chất và nhân lực so với thủ tục giấy tờ truyền thống, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số của ngành ngân hàng. Trở ngại của quá trình chuyển đổi kỹ thuật số nằm ở cơ sở hạ tầng bảo mật. Chính phủ Việt Nam cần xây dựng các quy định về bảo vệ dữ liệu người dùng cùng với hoàn thiện các quy định về bảo mật giao dịch, bảo mật thông tin, quy định chi tiết về chữ ký điện tử, chứng thư điện tử và giao dịch điện tử phù hợp với thông lệ quốc tế.

Chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật số

Chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chiến lược phát triển CNTT ngành ngân hàng Việt Nam đã xác định công nghệ là giải pháp hàng đầu để phát triển hệ thống ngân hàng, trong đó đặt mục tiêu tập trung phát triển ngành ngân hàng sản phẩm và dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại; Phát triển cơ sở hạ tầng CNTT, an toàn và bảo mật.

Ngoài ra, dự án năm 2030 sẽ thúc đẩy áp dụng mô hình điện toán đám mây; ưu tiên sử dụng các giải pháp hạ tầng kỹ thuật số do các đơn vị trong nước phát triển. Để phát triển hạ tầng phục vụ các hệ thống quan trọng, cần giao cho các doanh nghiệp nhà nước lớn có uy tín, kinh nghiệm và nhân lực thực hiện. Hơn nữa, dự án này tự hào có cơ sở hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin về tốc độ, đáp ứng yêu cầu phát triển Internet vạn vật trong chuyển đổi số.

Đại dịch cùng nhu cầu cao đối với các dịch vụ ngân hàng trực tuyến đã thúc đẩy số lượng giao dịch online, từ đó tăng tốc quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng. Đây cũng chính là bước ngoặt đối với các ngân hàng Việt Nam đứng trước cơ hội to lớn và bắt kịp xu hướng số hóa.

TL

Bài liên quan