Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lào cai: Nhận tiền đặt cọc bán nền đất dự án “khống”

Pháp luật doanh nghiệp | 22:14:00 31/10/2019 |  1,424

DNHN - Nhận tiền đặt cọc bán nền đất tại Dự án Khu đô thị mới Lào Cai của nhiều người, đến nay Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lào Cai bị tố là lừa đảo. Tìm hiểu câu chuyện thực hư thế nào thấy sự việc phát lộ nhiều tình tiết bất ngờ.

Tố cáo của người nộp tiền

Tạp chí Doanh nghiệp & Hội nhập nhận được đơn tố cáo của một số người đân về việc Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lào Cai nhận tiền đặt cọc mua các lô đất tại Dự án Khu đô thị mới Cửa khẩu thuộc phường Lào Cai, thành phố Lào Cai từ tháng 10/2017. Nhưng sau 10 tháng, Công ty này không giao được các lô đất đã cam kết với người mua đất nền và cũng không phản hồi hoặc có ý kiến gì về việc chậm trễ này. Khách hàng buộc phải đến công ty này để yêu cầu giao nền đất như đã cam kết hoặc trả lại tiền đặt cọc, nhưng cũng không gặp được Giám đốc Công ty là ông Lê Đăng Lợi, cũng không liên lạc được theo số điện thoại nêu trong hợp đồng.

Văn bản thông báo của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lào Cai

Bị khách hàng đến đòi giao đất hoặc trẩ tiền nhiều lần, Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lào Cai ra văn bản thông báo về việc dự án chuẩn bị bước vào sơ tuyển lựa chọn nhà đầu tư và do một nguyên nhân khách quan dẫn đến tiến độ bị chậm, Công ty cam kết trả lại tiền đặt cọc cho khách hàng vào ngày 31/12/2018. Nhưng đến ngày hẹn, Ccông ty lại một lần nữa thất hứa, không trả lại tiền đặt cọc, cũng không giao được nền đất cho khách hàng.

Đến ngày 2/5/2019, Công ty lại ban hành thông báo số 26/CV-XNK hứa từ ngày15/7/2019 đến 30/7/2019 sẽ trả lại tiền đặt cọc cho khách hàng, nhưng cho đến cuối tháng 10/2019 Công ty vẫn không thực hiện và khách hàng cũng không gặp được lãnh đạo Công ty.

Những tình  tiết bất ngờ

Câu chuyện nhận tiền đặt cọc nhưng không hoặc chưa giao được nền đất theo hợp đồng vẫn thường xảy ra vì nhiều lý do như tiến độ dự án bị chậm, giá cả tăng bất thường nên chủ đầu tư chây ỳ giao nền đất, chủ đầu tư cố ý lách luật để tranh thủ vốn của khách hàng….vv và vv. Nhưng lý do Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lào Cai không giao được nền đất cho khách hàng lại lý do rất bất thường.

Phiếu thu tiền khách hàng của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lào Cai

Để xác minh làm rõ theo nội dung bạn đọc phản ánh, phóng viên đã làm việc với Công ty CP XNK Lào Cai, được ông Trần Văn  Đức- Trưởng ban Đầu tư xây dựng cho biết, những người đặt cọc đều là cổ đông của Công ty. Các cổ đông góp tiền cùng Công ty để “chạy” dự án, để sau nay được mua nền đất dự án chứ không phải Công ty đã nhận tiền bán đất dự án. Hiện Công ty đã trả lại gần hết tiền cho những người góp tiền, còn một vài trường hợp nữa sẽ được trả trong thời gian sớm nhất. Khi được hỏi nếu là tiền góp vào để "chạy" dự án thì sao lại có hợp đồng đặt cọc mua bán đất nền ghi rõ tên lô đất và có cả phiếu thu tiền thì ông Trần Văn Đức không trả lời được.

Bất ngờ hơn, khi làm việc với UBND TP Lào Cai, phóng viên được ông Đào Minh Khánh - Trưởng phòng Quản lý Đô thị cho biết, hiện mới có quy hoạch Khu đô thị mới Lào Cai, do Sở Giao thông vận tải và Sở Xây dựng là chủ đầu tư quy hoạch, chứ chưa có nhà đầu tư cụ thể nào. Khi được hỏi Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lào Cai có phải chủ đầu tư dự án này không thì ông Đào Minh Khánh khẳng định, hiện chưa có Dự án Khu đô thị mới Lào Cai, mới chỉ là quy hoạch thì làm sao đã có chủ đầu tư.

Thế là đã rõ vì sao Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lào Cai không có đất nền để giao cho người đã đặt cọc mua đất, tuy nhiên lý do này rất ít khi xảy ra trong lĩnh vực dân sự vì đã mang dấu hiệu phạm tội hình sự.

Dấu hiệu phạm tội?

Nếu việc nộp tiền đặt cọc thực chất là tiền để “chạy” dự án như ông Trần Văn Đức nói, tức là Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lào Cai tập trung tiền để quan hệ, để hối lộ nhằm trở thành chủ đầu tư dự án này, thì có nghĩa các cá nhân có liên quan có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm đưa hối lộ, nếu chưa đưa hối lộ cho ai, biếu xén ai bằng số tiền này thì vẫn cấu thành tội đưa hối lộ vì tội phạm đã hoàn thành ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.

Bãi đất được cho là vị trí sẽ xây dựng Dự án Khu đô thị mới

Nếu việc đặt cọc đúng với bản chất hợp đồng đã ký, thì các cá nhân có liên quan đến chủ trương và thực hiện nhận tiền đã cấu thành tội lừa đảo vì như ông Đào MInh Khánh -Trưởng phòng Quản lý Đô thị nói chưa có dự án thì làm gì có ai là chủ đầu tư. Vậy lãnh đạo Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lào Cai đã dùng thủ đoạn gian dối nhận mình có đủ tư cách nhận tiền đặt cọc để giao đất để nhận tiền là chiếm đoạt tài sản. Kể cả trường hợp Công ty đã trả lại tiền cho người bị hại thì vẫn cấu thành tội phạm lừa đảo vì việc trả lại tiền chỉ là khắc phục hậu quả, là một tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật.

Căn cứ nội dung vụ việc nêu trên, đề nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra sớm vào cuộc để xác minh làm rõ, xử lý nghiêm minh những cá nhân có liên quan để giữ vững kỷ cương và răn đe phòng ngừa tội phạm. Tạp chí Doanh nghiệp & Hội nhập sẽ tiếp tục theo dõi và phản ánh đến bạn đọc diễn biến vụ việc này.

Bộ luật Hình Sự Điều 364.

Tội đưa hối lộ

1. Người nào trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; b) Lợi ích phi vật chất. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức;  b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;  đ) Phạm tội 02 lần trở lên; e) Của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 3. Phạm tội trong trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm. 4. Phạm tội trong trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt từ tù 12 năm đến 20 năm. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. 6. Người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này. 7. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. Điều 174.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Tái phạm nguy hiểm; đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Nhóm PV Pháp Luật

Từ khóa: XNK Lào Cai

Theo: Tạp chí Doanh nghiệp & Hội nhập