e magazine
16/02/2026 11:01

Giữa nhịp sống thời công nghệ, khi nhiều gia đình chọn mua sẵn bánh chưng cho ngày Tết, nồi bánh chưng xanh của ngôi làng nhỏ bé, ven thành Tây Đô vẫn đỏ lửa suốt đêm trong những ngày cuối năm. Việc nấu bánh chưng xanh đón Tết cổ truyền của dân tộc nhằm lưu giữ hồn cốt quê hương, ký ức gia đình và lời dặn thiêng liêng lưu truyền bao thế hệ của người dân sống xung quanh Di sản Thế giới Thành Nhà Hồ.

***

Câu nói ấy đã được các thế hệ trong nhiều gia đình ở làng Bèo, xã Tây Đô, tỉnh Thanh Hoá truyền lại như một lời dặn dò thiêng liêng mỗi khi ngày Tết cổ truyền của dân tộc đang cận kề. Đây cũng là ngôi làng có đặc điểm tự nhiên rất đặc biệt tạo nên vẻ đẹp sơn thuỷ hữu tình đặc trưng, người dân sinh sống quanh núi Bèo, dựa lưng vào núi, phía trước là dòng sông Bưởi hiền hoà thơ mộng và con đường Quốc lộ 45 nối liền các địa phương. Vì vậy chiếc bánh chưng xanh của làng chính là hội tụ những tinh tuý của núi sông quê hương.

Với tôi, câu nói “Tết, nồi bánh chưng là quan trọng nhất” còn gắn với kỷ niệm về người bà Nội kính yêu. Năm đó, trước lần chia tay cuối cùng khi nội về với tổ tiên, bà nắm chặt tay tôi mà nhắc: “Sắp đến Tết rồi, nhớ về mà nấu bánh chưng, nhé cháu. Tết, nồi bánh chưng là quan trọng nhất”. Tuổi thơ tôi gắn bó với Nội và cái buồng (phòng) chật hẹp, nơi cất giữ mấy chục năm ký ức. Mỗi dịp Tết, căn buồng ấy lại được giăng một sợi dây thừng chắc chắn nối từ then cửa sổ bên này sang chiếc đinh dài trên tường bên kia để treo từng cặp bánh chưng. Ngày đó nhà nghèo, không có tủ lạnh, dưới bếp nhiều mèo và chuột nên bánh chưng ngày Tết luôn được chọn treo trong buồng ngủ của 2 bà cháu vừa an toàn vừa ấm áp, thân thương.

Bánh chưng xanh làng Bèo gói bằng lá dong (không phải lá chuối như nhiều nơi) và đặc biệt là được nhuộm xanh bằng các loại lá chỉ mọc trên núi Bèo như: lá cơm lấm, lá mây, lá bòng bòng (lá cơm nếp), lá gừng, … Mỗi khi gia đình chuẩn bị nấu bánh chưng ăn Tết, lũ trẻ nhỏ trong làng lại lon ton theo người lớn trèo lên đỉnh núi để hái các loại lá nhuộm. Sau này, người dân mang các loại lá đó về nhà trồng để tiện dùng mỗi khi nấu bánh chưng. Nhiều địa phương cũng có phong tục nhuộm bánh chưng xanh nhưng các loại lá và cách nhuộm đặc trưng của làng Bèo thì không nơi nào có được.

Tất cả các loại lá gói và nhuộm bánh đều được người dân trong làng gánh ra gềnh sông Bưởi để rửa. Do người dân sinh sống xung quanh núi nên ngày xưa cứ đến mùa đông, vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc là giếng của nhiều nhà lại cạn nước. Kể cả những năm không bị hết nước nhưng do thói quen, người dân trong làng vẫn mang lá bánh chưng ra sông rửa. Nồi bánh chưng là biểu tượng thiêng liêng nhất của Tết cổ truyền, là hồn cốt của làng quê nên nó là sự hội tụ giữa núi rừng (lá trên đỉnh núi Bèo) và sông nước (rửa lá dưới sông và gánh nước về nấu bánh).

Để làm ra chiếc bánh chưng xanh, công việc giã lá nhuộm là quan trọng nhất. Lá được đưa vào cối to để giã nhỏ và vắt lấy nước cốt. Mặc dù sau này có máy say nhưng nhiều người vẫn giữ thói quen giã lá bằng cối. Bởi giã lá bằng tay lá mới nhuyễn và vắt được nhiều nước cốt.

Loại gạo nếp, hạt dài cấy từ vụ mùa chỉ được dùng một lần duy nhất trong năm là nấu bánh chưng, gần Tết được các gia đình nơi đây đưa ra dùng. Trước khi đãi, các bà, các mẹ phải ngồi nhặt từng hạt sạn, hạt thóc. Gạo làm bánh chưng được đãi nhanh và đều tay, không được ngâm nước, đãi xong để dốc nước (tầm 6-8 tiếng) mới nhuộm.

Chia sẻ về cách nhuộm bánh chưng xanh của làng Bèo, bà Đỗ Thị Hà, cho biết: “Nước cốt lá sau khi vắt xong phải nhuộm luôn, nếu để lâu sẽ bị chua và không giữ được màu xanh đẹp tự nhiên. Vì vậy, công đoạn chuẩn bị sẽ được các thành viên trong gia đình tính toán để ăn khớp với nhau. Gạo được nhuộm hai lần mới xanh đều. Sau khi nhuộm xong lần đầu, để gạo vào một cái chậu rồi tản đều, khoảng ba mươi phút sau lại nhuộm lần nữa cho gạo ngấm nước cốt. Bã của các loại lá sau khi giã lấy nước được giữ lại để lót đáy nồi bánh cho khỏi bị cháy và cũng để bánh chưng được xanh, thơm hơn khi nấu. Bánh chưng sau khi gói xong được đưa vào nồi xếp ngay ngắn và chèn thật chặt bằng bã lá nhuộm và cuống lá dong. Nếu chèn không chặt, khi sôi bánh sẽ bị bung khiến gạo chảy ra ngoài làm cháy nồi.

Nồi bánh chưng nấu trong vòng 12 giờ đồng hồ và phải có người canh liên tục. Bên cạnh luôn có một nồi nước sôi để châm nước mỗi khi nồi bánh cạn. Bên nồi bánh chưng đỏ lửa suốt đêm ấy chính là niềm vui rộn ràng của đại gia đình, từ ông bà, bố mẹ đến các con cháu nhưng vui nhất vẫn là lũ trẻ. Suốt đêm nấu bánh, chúng háo hức ngồi canh lửa, châm nước cùng người lớn. Khi nước trong nồi bánh chưng bắt đầu sôi ùng ục, cũng là lúc mùi thơm bắt đầu bốc lên, mùi lá dong, lá gừng, khoai nướng, ngô nướng toả hương ngào ngạt. Trong đêm gia đình quây quần bên nhau và bên nồi bánh chưng ấy, mọi người không chỉ chờ đợi những chiếc bánh chưng xanh, mà còn được ủ ấm bởi yêu thương, bởi ký ức Tết quê nhà, thứ hạnh phúc giản dị mà không phải ai cũng có được.

Chiếc bánh chín bóc ra mang một màu xanh tự nhiên từ trong ra ngoài, bánh vẫn giữ nguyên mùi hương của gạo nếp, hương thơm của lá cây bùi bùi, mùi gừng cay ấm nóng, đậu xanh thơm mát... Tất cả hòa quyện vào nhau tạo nên hương vị độc đáo, mới lạ chỉ có ở vùng quê núi Bèo sông Bưởi của vùng đất Di sản thế giới Thành Nhà Hồ mới có được. Việc nhuộm bánh không hề ảnh hưởng đến chất lượng và hương vị truyền thống mà còn làm chiếc bánh có màu sắc độc đáo. Ngày xưa, ăn Tết xong là người dân làng lại bắt đầu gieo cấy cho vụ chiêm xuân nên nhà nào cũng nấu dư bánh để mang ra đồng ăn những ngày sau Tết. Mỗi khi giải lao, ngồi trên bờ ruộng cắt bánh chưng ra ăn, ngon không gì bằng.

Dựa trên những ký ức và truyền thống thiêng liêng ấy, bánh chưng xanh của làng Bèo không chỉ gắn bó với núi Bèo, sông Bưởi mà còn theo bước chân người quê ra với thủ đô Hà Nội mỗi dịp Tết đến, xuân về. Vào ngày Tết cổ truyền của dân tộc, người dân làng Bèo lập nghiệp tại thành phố lại gánh theo hương vị quê nhà, mang từng bó lá dong, từng bao tải gạo nếp, đậu xanh, lá nhuộm ra Hà Nội để nấu bánh.

Nồi bánh chưng xanh được nhóm lên giữa lòng thủ đô nhưng vẫn vẹn nguyên hồn cốt quê hương, bởi tất cả đều do chính tay người làng làm nên, từ khâu giã lá, nhuộm gạo đến gói và canh bánh suốt 12 giờ đêm. Người dân thủ đô ai cũng thích thú, trân quý những chiếc bánh xanh mướt, bởi màu xanh ấy hoàn toàn từ lá cây tự nhiên không phải phẩm màu. Giữa phố phường đông đúc, nồi bánh chưng làng Bèo tỏa hương thơm của núi rừng, của ký ức và của câu nói đã ăn sâu vào tâm khảm bao thế hệ gia đình sống quanh núi Bèo: “Tết, nồi bánh chưng là quan trọng nhất.”

Chị Đỗ Thị Hiên, người làng Bèo, đang tất bật với nồi bánh chưng dịp tết Bính Ngọ cho biết: “Tôi là người làng Bèo, lớn lên bên núi Bèo, sông Bưởi, nơi bánh chưng xanh không chỉ là món ăn ngày Tết mà là một phần máu thịt của quê hương. Từ ngày lập nghiệp ở Thủ đô, tôi cùng những người họ hàng cùng quê đã nấu bánh chưng xanh cung cấp cho người dân Hà Nội. Trong nồi bánh quê nhà ấy có lá dong còn thơm mùi núi rừng, có gạo nếp trắng ngần, đậu xanh vàng óng và cả những nắm lá nhuộm được giã từ cây cỏ quê tôi”.

Giữa lòng Hà Nội đông đúc, những người dân làng Bèo nhóm lên nồi bánh chưng xanh. Ngọn lửa cháy lên không chỉ để nấu bánh, mà còn sưởi ấm ký ức, sưởi ấm tình quê. Từng chiếc bánh được gói bằng đôi bàn tay đã quen việc, bằng những tấm lòng của người dân quê nhằm giữ hồn Tết nơi thị thành. Dẫu ở xa quê, nhưng bánh vẫn xanh mướt, xanh từ lá rừng, từ gạo nhuộm tự nhiên, và xanh thơm nức cả tấm lòng của người làm bánh.

Người dân thủ đô đón nhận bánh chưng làng Bèo bằng sự thích thú và trân quý. Họ nâng niu từng chiếc bánh như nâng niu một phần Tết xưa, bởi họ hiểu rằng màu xanh ấy không đến từ phẩm màu, mà đến từ truyền thống, từ sự chân thật và tình yêu quê hương. Giữa phố phường tấp nập, nồi bánh chưng của vùng đất Tây Đô tỏa hương núi rừng, hương ký ức, như nhắc nhở thế hệ trẻ nhớ về câu nói của bao thế hệ gia đình: Tết, nồi bánh chưng là quan trọng nhất.”

“Tết thời số” nhiều nơi sẽ không nấu bánh chưng mà đặt tại cửa hàng nhưng người dân làng Bèo, xã Tây Đô, tỉnh Thanh Hoá dù sinh sống nơi đâu vẫn giữ phong tục làm bánh chưng xanh đón Tết cổ truyền của dân tộc. Mùa xuân Bính Ngọ đang đến rất gần, trong trái tim của người dân làng Bèo lại văng vẳng lời nói của người xưa “Tết, nồi bánh chưng là quan trọng nhất”.

PV

In bài viết